vutrongphung9x

Thành Viên Phố
  • Số bài viết

    50
  • Tham gia

  • Lần cuối online

  • Xác Thực

    N/A
Nhạc yêu thích của tôi

Điểm ưu tú

0 Neutral

About vutrongphung9x

  • Rank

Thông tin cá nhân

  • Họ và tên
    vutrongphung9x
  • Điện thoại
    0962275940
  • Địa chỉ
    122 vũ tông phan
  • Thành Phố
    Hà Nội
  1. Có một số cách hiểu về dịch vụ chủ yếu như sau: Theo quan điểm truyền thống: những gì không phải nuôi trồng, không phải sản xuất là dịch vụ, nó bao gồm các hoạt động: + Khách sạn, cả hàng ăn, hiệu sửa chữa, bảo hành + Giải trí, phim ảnh, bảo tàng + Chăm sóc sức khỏe, bảo hiểm + Tư vấn, giáo dục, đào tạo + Tài chính, ngân hàng + Bán buôn, bán lẻ + Giao thông vận tải, phương tiện công cộng: viễn thông, bưu chính, CNTT + Khu vực chính phủ: tòa án, cảnh sát, quân đội, cứu thương, cứu hỏa,… Các bài viết có thể xem thêm: + chính phủ điện tử là gì + thực trạng chuyển giá ở việt nam hiện nay + người tiêu dùng là gì Theo cách hiểu phổ biến: dịch vụ là một hoạt động xã hội mà sản phẩm của nó là vô hình. Nó giải quyết các mối quan hệ với khách hàng với tài sản do khách hàng sở hữu mà không có sự chuyển giao quyền sở hữu. Theo cách hiểu khác: dịch vụ là một hoạt động xã hội xảy ra trong mối quan hệ trực tiếp giữa khách hàng và đại diện của tổ chức cung ứng dịch vụ. Theo ISO 8402: “Dịch vụ là kết quả tạo ra do các hoạt động tiếp xúc giữa người cung ứng và khách hàng và các hoạt động nội bộ của người cung ứng để đáp ứng nhu cầu của khách hàng”. Dịch vụ bao gồm ba bộ phận hợp thành, đó là: + Dịch vụ căn bản là hoạt động thực hiện mục đích chính, chức năng, nhiệm vụ chính của dịch vụ. + Dịch vụ hỗ trợ là hoạt động tạo điều kiện thực hiện tốt dịch vụ cơ bản và làm tăng giá trị của dịch vụ cơ bản. Ví dụ: dịch vụ tư vấn thiết kế các công trình viễn thông, thì giải pháp kỹ thuật, kinh tế của công trình là dịch vụ căn bản. Bên cạnh đó đơn vị cung cấp dịch vụ tư vấn thiết kế tổ chức các buổi hội thảo công nghệ mới, thảo luận với khách hàng; cung cấp tài liệu chuyên ngành…để khách hàng tiếp cận được với giải pháp kỹ thuật mà đơn vị tư vấn đưa ra; đó là những dịch vụ hỗ trợ. + Dịch vụ toàn bộ: bao gồm dịch vụ căn bản và dịch vụ hỗ trợ. Với một hoạt động nhất định, nhiều khi khó tách bạch giữa sản phẩm và dịch vụ; sản xuất gắn chặt với dịch vụ. Ví dụ: hoạt động của cửa hàng ăn vừa có tính chất sản phẩm, vừa có tính chất dịch vụ; dịch vụ bao gói, bảo hành gắn với sản phẩm cụ thể. Để có dịch vụ cần có sự phối hợp chặt chẽ của các yếu tố vật chất và con người bao gồm cả sự phối hợp với khách hàng. Cụ thể muốn cung cấp một dịch vụ cần có các yếu tố cơ bản sau: – Khách hàng đang nhận dịch vụ. Đây là yếu tố căn bản và tuyệt đối cần thiết để có dịch vụ. Không có khách hàng, không tồn tại dịch vụ. – Cơ sở vật chất bao gồm phương tiện, thiết bị, địa điểm, khung cảnh… – Nhân viên phục vụ hoạt động dịch vụ. Dịch vụ là mục tiêu của hệ thống dịch vụ cũng là chính là kết quả của hệ thống. Gần đây có 1 số dịch vụ không cần nhân viên phục vụ mà tổ chức cung ứng dịch vụ thực hiện cung cấp dịch vụ cho khách hàng thông qua hệ thống máy móc, dịch vụ đó còn gọi là dịch vụ self service. Ví dụ: hệ thống trả lời thông tin tự động; hệ thống rút tiền tự động … – Sản phẩm đi kèm Nguồn : https://thuelamluanvan.net/khai-niem-dich-vu/
  2. Chiến lược kinh doanh đóng vai trò hết sức quan trọng đối với sự tồn tại và phát triển của mỗi doanh nghiệp. Chiến lược kinh doanh đúng đắn sẽ tạo một hướng đi tốt cho doanh nghiệp, chiến lược kinh doanh có thể coi như kim chỉ nam dẫn đường cho doanh nghiệp đi đúng hướng. Trong thực tế, có rất nhiều nhà kinh doanh nhờ có chiến lược kinh doanh đúng đắn mà đạt được nhiều thành công, vượt qua đối thủ cạnh tranh và tạo vị thế cho mình trên thương trường. Chiến lược kinh doanh mang lại rất nhiều lợi ích cho doanh ngquản lý với nhân viên. Qua đó tăng cường và nâng cao hơn nữa nội lực của doanh nghiệp . Vai trò của chiến lược kinh doanh – Chiến lược kinh doanh là công cụ cạnh tranh có hiệu quả của doanh nghiệp. Trong điều kiện toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế hiện nay đã tạo nên sự ảnh hưởng và phụ thuộc qua lại lẫn nhau giữa các doanh nghiệp hoạt động kinh doanh. Chính quá trình đó đã tạo nên sự cạnh tranh khốc liệt giữa các doanh nghiệp trên thị trường (Ngô Kim Thanh 2011). Ngoài những yếu tố cạnh tranh như: giá cả, chất lượng, quảng cáo, marketing, các doanh nghiệp còn sử dụng chiến lược kinh doanh như một công cụ cạnh tranh có hiệu quả. Tham khảo thêm các bài viết sau: + người tiêu dùng là gì + hộ gia đình Tầm quan trọng của nó được thể hiện ở những mặt sau: – Chiến lược kinh doanh giúp doanh nghiệp định hướng cho hoạt động của mình trong tương lai thông qua việc phân tích và dự báo môi trường kinh doanh. Kinh doanh là một hoạt động luôn chịu sự ảnh hưởng của các yếu tố bên ngoài và bên trong (Ngô Kim Thanh 2011). Chiến lược kinh doanh giúp doanh nghiệp vừa linh hoạt vừa chủ động để thích ứng với những biến động của thị trường, đồng thời còn đảm bảo cho doanh nghiệp hoạt động và phát triển theo đúng hướng. Điều đó có thể giúp doanh nghiệp phấn đấu thực hiện mục tiêu nâng cao vị thế của mình trên thị trường. – Chiến lược kinh doanh giúp doanh nghiệp nắm bắt được các cơ hội cũng như đầy đủ các nguy cơ đối với sự phát triển nguồn lực của doanh nghiệp. Nó giúp doanh nghiệp khai thác và sử dụng hợp lý các nguồn lực, phát huy sức mạnh của doanh nghiệp. – Chiến lược tạo ra một quỹ đạo hoạt động cho doanh nghiệp, giúp doanh nghiệp liên kết được các cá nhân với các lợi ích khác cùng hướng tới một mục đích chung, cùng phát triển doanh nghiệp (Ngô Kim Thanh 2011). Nó tạo một mối liên kết gắn bó giữa các nhân viên với nhau và giữa các nhà Nguồn : https://thuelamluanvan.net/vai-tro-va-tam-quan-trong-cua-chien-luoc-kinh-doanh-doi-voi-doanh-nghiep/
  3. Đối với nền kinh tế Thông qua hoạt động dịch vụ NHBL, tăng quá trình chu chuyển tiền tệ trong nền KT, khai thác và sử dụng các nguồn vốn trong nền KT thêm hiệu quả, làm tăng luân chuyển tiền tệ trong không gian và thời gian. Khối lượng tiền tệ di chuyển từ nơi này sang nơi khác, từ KH này sang KH khác, đáp ứng các nhu cầu cho hoạt động KT xã hội. Góp phần thúc đẩy sản xuất kinh doanh, tiêu dùng, góp phần vào quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Góp phần tích cực trong việc mang lại lơi ích chung cho nền KT, cho KH và NH thông qua việc giảm chi phí nhờ sự tiện ích và chuyên môn hoá của từng loại dịch vụ: giảm chi phí in ấn, kiểm đếm, bảo quản, vận chuyển tiền, cũng như tiết kiệm nhân lực để thực hiện, giảm chi phí dịch vụ, giúp KH có nhiều cơ hội để lựa chọn SPDV. Tham khảo thêm các bài viết sau: + vai trò của kế toán + Các nhân tố quyết định chất lượng dịch vụ Tạo nguồn thu ngoại tệ cho quốc gia từ các nguồn kiều hối từ nước ngoài chuyển về. Góp phần chống tham nhũng, gian lận thương mại, buôn lậu, trốn thuế: Thanh toán không dùng tiền mặt được là hình thức được Nhà nước khuyến khích trong giao dịch sản xuất kinh doanh. Việc thanh toán bằng tiền mặt dẫn đến tình trạng tham nhũng, buôn lậu, trốn thuếvì luồng tiền khi thanh toán qua tài khoản NH được thể hiện đầy đủ trên sổ sách, chứng từ kế toán, thể hiệ đầy đủ các khoản thu của doanh nghiệp nhất là những doanh nghiệp nhỏ, các doanh nghiệp bắt buộc phải hạch toán đầy đủ doanh thu phát sinh và thuế giá trị gia tăng đầu ra, thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp. Đối với Ngân hàng Đem lại cho NH khoản thu nhập lớn về phí dịch vụ. Phát triển dịch vụ đa dạng, nhiều tiện ích theo hướng cải tiến phương thức thanh toán, đơn giản hoá thủ tục, mở rộng mạng lưới hoạt động. Bên cạnh đó NH có thể phát triển nhũng dịch vụ hỗ trợ như dịch vụ chi trả lương cho những người có tài khoản tại nhiều NH khác nhau, chuyển tiền mặt giao dịch tận tay người nhận… sẽ thu hút ngày càng nhiều KH đến với NH, từ đó làm tăng thu dịch vụ của NH Tận dụng được nguồn vốn trong thanh toán của KH đang lưu ký trên tài khoản thanh toán, ký quỹ. Những tài khoản này NH không phải trả lãi hoặc trả lãi thấp làm cho chi phí đầu vào của nguồn vốn huy động giảm xuống tạo ra sự chênh lệch lớn giữa lãi suất bình quân cho vay và lãi suất bình quân tiền gửi. Xây dựng được mạng lưới KH đa dạng, rộng khắp làm nền tảng để phát triển các dịch vụ NH Tăng khả năng hoạt động đáp ứng các nhu cầu KH của các NHTM, từ đó tăng dần khả năng thích ứng, cạnh tranh của các NHTM góp phần làm vững mạnh thêm nền tài chính nước nhà. Đối với Khách hàng Dịch vụ NHBL giúp đáp ứng tính tiện lợi, tính thay đổi nhanh và thường xuyên nhu cầu xã hội. Dịch vụ NHBL đem đến sự thuận tiện, an toàn, tiết kiệm cho khách hàng trong quá trình thanh toán và sử dụng nguồn thu nhập của mình, giúp cải thiện đời sống nhân dân, góp phần giảm thiểu chi phí xã hội qua việc tiết kiệm chi phí thời gian, chi phí thông tin. Dịch vụ NHBL giúp cho cá nhân, doanh nghiệp nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn nhân lực của mình. Trong nền kinh tế thị trường, các DNNVV và khách hàng cá nhân khó có điều kiện cạnh tranh về vốn, công nghệ với các doanh nghiệp lớn. Dịch vụ NHBL sẽ hỗ trợ tích cực cho các đối tượng khách hàng này phát triển thông qua tiếp cận nguồn vốn vay từ ngân hàng, sử dụnng các DVNH, tạo điều kiện cho quá trình sản xuất kinh doanh được tiến hành trôi chảy, nhịp nhàng, thúc đẩy vòng quay vốn, góp phần đẩy nhanh tóc độ sản xuất, luân chuyển hàng hoá. Từ đó nâng cao hiệu quả đầu tư nguồn nhân lực. Phát triển dịch vụ NHBL trên nèn tảng công nghệ tiên tiến giúp tiết kiệm nhân lực và giảm chi phí vận hành, nhờ đó giúp giảm phí dịch vụ cho khách hàng. Và giúp người dân làm quen và không còn cảm thấy xa lạ với những khái niệm ngân hàng tự động, ngân hàng “không người”, ngân hàng ảo. Nguồn: https://lamthueluanvan.net/loi-ich-cua-viec-phat-trien-dich-vu-ngan-hang-ban-le/
  4. 1. Khái niệm về tăng trưởng kinh tế là gìTăng trưởng kinh tế là sự gia tăng của tổng sản phẩm quốc nội (GDP) hoặc tổng sản lượng quốc gia (GNP) hoặc quy mô sản lượng quốc gia tính bình quân trên đầu người (PCI) trong một thời gian nhất định. Sự tăng trưởng kinh tế phụ thuộc vào 2 quá trình: sự tích lũy tài sản (như vốn, lao động và đất đai) và đầu tư những tài sản này có năng suất hơn. Tiết kiệm và đầu tư là trọng tâm, nhưng đầu tư phải hiệu quả thì mới đẩy mạnh tăng trưởng. Chính sách chính phủ, thể chế, sự ổn định chính trị và kinh tế, đặc điểm địa lý, nguồn tài nguyên thiên nhiên, và trình độ y tế và giáo dục, tất cả đều đóng vai trò nhất định ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế. Tham khảo thêm các bài viết sau: + các hình thái của tiền tệ + khái niệm bán hàng 2. Các lý thuyết về mô hình tăng trưởng kinh tếa Mô hình tăng trưởng kinh tế cổ điển của D. Ricardo Ricardo đã kế thừa tư tưởng của Malthus, A.Smith, ông cho rằng các yếu tố cơ bản của tăng trưởng kinh tế là đất đai, lao động, vốn. Trong đó, ông coi đất đai sản xuất nông nghiệp là nguồn gốc tăng trưởng kinh tế: vì đất có giới hạn nên người sản xuất cần mở rộng diện tích trên đất xấu dẫn đến lợi nhuận giảm, chi phí tăng, giá tăng nên lương danh nghĩa tăng, lợi nhuận nhà tư bản chủ nghĩa giảm; mà lợi nhuận là nguồn tích lũy để mở rộng đầu tư dẫn đến tăng trưởng nhưng thực tế mức tăng trưởng ngày càng tăng cho thấy mô hình này không còn phù hợp để giải thích được nguồn gốc của tăng trưởng. b Mô hình tăng trưởng kinh tế của K. Marx. Theo Marx các yếu tố tác động đến quá trình tái sản xuất là đất đai, lao động, vốn và tiến bộ kỹ thuật. Marx đặc biệt quan tâm đến vai trò của lao động trong việc tạo ra giá trị thặng dư. Sức lao động đối với nhà tư bản là một loại hàng hóa đặc biệt, giá trị sử dụng của hàng hóa sức lao động không giống như giá trị sử dụng của các loại hàng hóa khác, vì nó có thể tạo ra một giá trị lớn hơn giá trị của bản thân nó, giá trị đó bằng giá trị sức lao động cộng với giá trị thặng dư. Về yếu tố kỹ thuật, Marx cho rằng tiến bộ kỹ thuật làm tăng số máy móc và dụng cụ lao động dành cho người thợ, nghĩa là cấu tạo hữu cơ tư bản C/V có xu hướng ngày càng tăng. Do các nhà tư bản cần nhiều vốn hơn để khai thác tiến bộ kỹ thuật, để nâng cao năng suất lao động của công nhân nên các nhà tư bản phải chia giá trị thặng dư thành hai phần: một phần để tiêu dùng cho nhà tư bản, một phần để tích luỹ phát triển sản xuất. Đó là nguyên nhân tích luỹ của chủ nghĩa tư bản. Marx bác bỏ ý kiến về “cung tạo nên cầu”, theo ông khủng hoảng kinh tế là một giải pháp nhằm khôi phục lại thế thăng bằng đã bị rối loạn. Các chính sách kinh tế của Nhà nước có ý nghĩa quan trọng để thúc đẩy tăng trưởng, đặc biệt là chính sách khuyến khích nâng cao mức cầu hiện có. c Mô hình tân cổ điển Các nhà kinh tế tân cổ điển bác bỏ quan điểm cổ điển cho rằng sản xuất trong một tình trạng nhất định đòi hỏi những tỷ lệ nhất định về lao động và vốn, họ cho rằng vốn và lao động có thể thay thế cho nhau, và trong quá trình sản xuất có thể có nhiều cách kết hợp giữa các yếu tố đầu vào. Đồng thời họ cho rằng tiến bộ khoa học kỹ thuật là yếu tố cơ bản để thúc đẩy sự phát triển kinh tế. Do chú trọng đến các nhân tố đầu vào của sản xuất, lý thuyết tân cổ điển còn được gọi là lý thuyết trọng cung. Điểm giống với các nhà kinh tế cổ điển, các nhà kinh tế tân cổ điển cho rằng trong điều kiện thị trường cạnh tranh, khi nền kinh tế có biến động thì sự linh hoạt về giá cả và tiền công là nhân tố cơ bản khôi phục nền kinh tế về vị trí sản lượng tiềm năng với việc sử dụng hết nguồn lao động. Họ cũng cho rằng Chính phủ không có vai trò quan trọng trong việc điều tiết nền kinh tế. Nguồn : https://lamthueassignment.com/khai-niem-ve-tang-truong-kinh-te/
  5. Các nhân tố ảnh hưởng đến văn hóa doanh nghiệpCác yếu tố ảnh hưởng đến sự hình thành văn hóa doanh nghiệp: quá trình hình thành văn hóa doanh nghiệp là một quá trình lâu dài và chịu sự tác động của nhiều yếu tố, trong đó 3 yếu tố có ảnh hưởng quyết định nhất là: Văn hóa dân tộc; nhà lãnh đạo; sự đòi hỏi từ môi trường bên ngoài. Chúng ta sẽ lần lượt phân tích từng yếu tố này và mức độ ảnh hưởng chúng tới quá trình định hình văn hóa của mỗi doanh nghiệpTham khảo thêm các bài sau:+promotion trong marketing+quản trị marketing quốc tế là gì1. Văn hóa dân tộcVăn hóa doanh nghiệp là sự tổng hòa của quan niệm giá trị, tiêu chuẩn đạo đức, triết lý kinh doanh, quy phạm hành vi, ý tưởng kinh doanh, phương thức quản lý và quy tắc chế độ được toàn thể thành viên trong doanh nghiệp chấp nhận, tuân theo. Văn hóa doanh nghiệp lấy việc pháttriển toàn diện con người làm mục tiêu cuối cùng. Cốt lõi của văn hóa doanh nghiệp là tinh thần doanh nghiệp và quan điểm giá trị của doanh nghiệp. Trong quá trình phát triển, mỗi doanh nghiệp đều nỗ lực xây dựng một hệ thống quan điểm giá trị để công nhân viên chức chấp nhận, tạo ra sự hài hòa trong nội bộ doanh nghiệp, một không khí văn hóa tích cực để phát huy thế mạnh văn hóa của tập thể, tăng cường nội lực và sức mạnh của doanh nghiệp. Văn hóa doanh nghiệp là một giai đoạn phát triển của tư tưởng quản lý doanh nghiệp hiện đại, thể hiện sự chuyểndịch chiến lược phát triển kỹ thuật nhằm tạo nên những sản phẩm hàm chứa hàm lượng văn hóa cao. Bởi thế, có thể coi văn hóa doanh nghiệp là yếu tố tối quan trọng của thực tiễn doanh nghiệp đương đại.Đặc điểm nổi bật của văn hóa dân tộc là coi trọng tư tưởng nhân bản, chuộng sự hài hoà, tinh thần cầu thực, ý chí phấn đấu tự lực, tự cường… đây là những ưu thế để xây dựng văn hóa doanh nghiệp mang bản sắc Việt Nam trong thời hiện đại. Tuy nhiên, văn hóa Việt Nam cũng có những điểm hạn chế: người Việt Nam phấn đấu cốt để “vinh thân phì gia”, yêu thích trung dung, yên vui với cảnh nghèo, dễ dàng thoả mãn với những lợi ích trước mắt, ngại cạnh tranh; tư tưởng “trọng nông khinh thương” ăn sâu vào tâm lý người Việt đã cản trở không nhỏ đến việc mở rộng kinh tế thị trường, làm ăn; tập quán sinh hoạt tản mạn của nền kinh tế tiểu nông không ăn nhập với lối sống hiện đại; thói quen thủ cựu và tôn sùng kinh nghiệm, không dám đổi mới, đột phá gây trở ngại cho sự phát triển của các doanh nghiệp hiện đại…2. Nhà Lãnh ĐạoNhà lãnh đạo không chỉ là người quyết định cơ cấu tổ chức và công nghệ của doanh nghiệp, mà còn là người sáng tạo ra các biểu tượng, các ý thức hệ, ngôn ngữ. Niềm tin. Nghi lễ và huyền thoại… của doanh nghiệp. Qua quá trình xây dựng và quản lý doanh nghiệp. Hệ tư tưởng và tính cách của nhà lãnh đạo sẽ được phản chiếu lên văn hoá doanh nghiệp.Khi doanh nghiệp thay đổi nhà lãnh đạo. Điều này có thể đồng nghĩa với việc doanh nghiệp phải đối mặt với một trong hai tình huống sau: (1 ) doanh nghiệp sẽ chuyển sang một giai đoạn mới, với những thay đổi mạnh mẽ về cơ cấu tổ chức, đội ngũ nhân sự, đường hường chiến lược phát triển.. ., Những thay đổi này tất yếu sẽ dẫn đến thay đổi cơ bản của văn hoá doanh nghiệp; (2) tình huống sau có vẻ ít “đau đớn” hơn, nhà lãnh đạo mới vẫn giữ nguyên đường lối chiến lược cũ, bộ máy nhân sự không có những thay đổi quan trọng… Tuy nhiên. Kể cả trong tình huống này, văn hoá doanh nghiệp cũng sẽ thay đổi. Bởi vì văn hoá doanh nghiệp bản thân nó là tấm gương phản chiếu tài năng, cá tính và những triết lý kinh doanh của người chủ doanh nghiệp. Hai nhà lãnh đạo khác nhau thì tất yếu những giá trị mà họ tạo ra cũng sẽ khác nhau.3. Ảnh hưởng từ văn hóa bên ngoài Những giá trị học hỏi được : – Những kinh nghiệm tập thể của doanh nghiệpNhững kinh nghiệm ban đầu của tập thể hình thành nên nền tảng của văn hóa tổ chức. Qua quá trình hoạt động, các kinh nghiệm được tích lũy ngày càng nhiều bổ sung và làm phong phú thêm cho văn hóa của tổ chức.– Những giá trị học hỏi từ các doanh nghiệp khácMỗi doanh nghiệp đều có văn hóa riêng của mình. Chính văn hóa tổ chức làm nên nét riêng biệt của từng doanh nghiệp, giúp phân biệt doanh nghiệp này với doanh nghiệp khác. Tuy nhiên có một số giá trị có thể học tập được, chia sẻ được. Điều quan trọng là cần xác định được giá trị đó có phù hợp với doanh nghiệp, tổ chức của mình hay không. Không nên học tập một cách máy móc, mà phải chọn lọc những giá trị phù hợp, áp dụng vào doanh nghiệp một cách linh hoạt, sáng tạo.Nguồn: https://luanvantaichinh.com/cac-nhan-to-anh-huong-den-van-hoa-doanh-nghiep/
  6. 1. Khái niệm chính phủ điện tửChính phủ điện tử (tiếng Anh là: e-Government) là tên gọi của một chính phủ mà mọi hoạt động của nhà nước được thay đổi theo một khái niệm hoàn toàn mới, chính phủ điện tử đó gần và thuận lợi với công dân hơn, bằng các kỹ thuật và công nghệ tiên tiến, hiện đại. Mọi quan hệ giữa chính phủ và công dân bảo đảm tính minh bạch, công khai, thuận tiện, bảo đảm sự kiểm soát và giám sát lẫn nhau giữa công dân với chính phủ; một chính phủ của dân, vì dân và vì sự phồn thịnh của đất nước trong một môi trường toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế.Tham khảo các bài viết sau:+ người tiêu dùng là gì+ khái niệm quyền con ngườiMột số khái niệm khác về chính phủ điện tửĐịnh nghĩa của Liên Hợp quốc: “Chính phủ điện tử được định nghĩa là việc sử dụng Internet và mạng toàn cầu (world-wide-web) để cung cấp thông tin và các dịch vụ của chính phủ tới công dân”.– Định nghĩa của tổ chức Đối thoại doanh nghiệp toàn cầu về thương mại điện tử: “Chính phủ điện tử đề cập đến một trạng thái trong đó các cơ quan hành pháp, lập pháp và tư pháp (bao gồm cả chính quyền trung ương và chính quyền địa phương) số hóa các hoạt động bên trong và bên ngoài của họ và sử dụng các hệ thống được nối mạng hiệu quả để có được chất lượng tốt hơn trong việc cung cấp các dịch vụ công”.– Định nghĩa của Gartner: chính phủ điện tử là “sự tối ưu hóa liên tục của việc cung cấp dịch vụ, sự tham gia bầu cử và quản lý bằng cách thay đổi các quan hệ bên trong và bên ngoài thông qua công nghệ, Internet và các phương tiện mới”.2. Mục tiêu chính phủ điện tử– Tạo ra môi trường kinh doanh tốt hơn thông qua mối quan hệ tương tác giữa chính phủ điện tử và các doanh nghiệp bằng cách giảm bớt các khâu rườm rà trong thủ tục và chú trọng đến việc cung cấp các dịch vụ nhanh chóng và hiệu quả. Chính phủ điện tử có thể tạo ra các điều kiện thu hút đầu tư.– Chính phủ điện tử giúp khách hàng trực tuyến không phải xếp hàng. Điều này liên quan đến việc cung cấp một cách hiệu quả các hàng hóa và dịch vụ công cộng cho người dân thông qua việc phản hồi nhanh chóng của Chính phủ điện tử đó với sự tham gia tối thiểu của các nhân viên của chính phủ.– Tăng cường sự điều hành có hiệu quả của Chính phủ điện tử và sự tham gia rộng rãi của người dân.Nâng cao tính minh bạch và tin cậy của chính phủ điện tử thông qua ứng dụng Công nghệ Thông tin và Truyền thông trong quản lý và điều hành cũng như mở ra cơ hội mới cho nhân dân chủ động tham gia vào việc hoạch định các chính sách của Chính phủ điện tử. Với sự điều hành minh bạch chính phủ sẽ hạn chế được tình trạng tham nhũng của mình. Việc phổ biến một cách rộng rãi thông tin bằng Công nghệ thông tin và truyền thông sẽ hỗ trợ cho việc trao quyền cho người dân cũng như quá trình quá trình đưa ra quyết định của chính phủ. Sự minh bạch của thông tin không những chỉ thể hiện tính dân chủ trong điều hành của Chính phủ, mà còn có thể gây dựng những niềm tin giữa các nhà lãnh đạo chính phủ và tính hiệu quả bắt buộc trong điều hành chính phủ.– Nâng cao năng suất và tính hiệu quả của các cơ quan Chính phủ. Năng suất lao động của các nhân viên trong các cơ quan thuộc cơ cấu của Chính phủ bằng cách cắt giảm văn phòng và việc quản lý giấy tờ, nâng cao năng lực quản lý kế hoạch của chính phủ.– Nâng cao chất lượng cuộc sống cho các cộng đồng vùng sâu và vùng xa. Công nghệ thông tin sẽ giúp cho Chính phủ có thể vươn tới các nhóm, cộng đồng thiểu số và nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân các vùng sâu và xa.Cuối cùng mục tiêu của chính phủ điện tử là cải tiến mối tương tác qua lại giữa 3 chủ thể chính của xã hội là Chính phủ, người dân và doanh nghiệp nhằm thúc đẩy tiến trình phát triển kinh tế – xã hội đất nước.3. Chức năng Chính phủ Điện tửMặc dù còn có những quan niệm khác nhau, song có thể hiểu một cách đơn giản: chính phủ điện tử là sự ứng dụng công nghệ thông tin – truyền thông để các cơ quan chính phủ đổi mới, làm việc hiệu lực, hiệu quả và minh bạch hơn, cung cấp thông tin, dịch vụ tốt hơn cho người dân, doanh nghiệp và các tổ chức; đồng thời tạo điều kiện thuận lợi hơn cho người dân thực hiện quyền dân chủ của mình trong việc tham gia quản lý nhà nước. Nói cách ngắn gọn, chính phủ điện tử là chính phủ hoạt động hiệu lực, hiệu quả hơn, cung cấp dịch vụ tốt hơn trên cơ sở ứng dụng công nghệ thông tin – truyền thông.Tham gia chính phủ điện tử gồm 3 chủ thể: người dân, Chính phủ điện tử và doanh nghiệp. Các mối quan hệ tương tác giữa 3 chủ thể gồm: G2C: Quan hệ Chính phủ điện tử với người dân. G2B: Quan hệ Chính phủ điện tử với doanh nghiệp. G2G: Quan hệ các cơ quan Chính phủ điện tử với nhau. Nguồn: https://thuelamluanvan.net/khai-niem-va-muc-tieu-chinh-phu-dien-tu-la-gi/
  7. Đất nước và tiềm năng phát triển sản phẩm du lịch Indonesia * Vị trí địa lý: Indonesia là một quốc đảo với khoảng 17.500 hòn đảo lớn nhỏ, trong đó phải kể đến một số đảo chính như: đảo Java, đảo Sumatra, đảo Kalimanta (phần lãnh thổ của Indonesia trên đảo Borneo, hòn đảo thuộc chủ quyền của 3 nước Indonesia, Malaysia và Brunei Darussalam), đảo Sulawesi (hay Celebes), quần đảo Moluccas, quần đảo Nusa Tenggara (hay quần đảo Sunda nhỏ, trong đó một nửa phía Tây thuộc Đông Timor và đảo Bali) và đảo Papua (trước đây có tên là Irian Jaya, là một phần của đảo New Guinea – phần còn lại thuộc quốc đảo Papua New Guinea). Với tổng diện tích lên tới 1,9 triệu km2, Indonesia là nước lớn thứ 15 trên thế giới, trải dài khoảng 5.440km từ lục địa Đông Nam Á về phía đông Philippines và Australia, được bao quanh bởi ba vùng biển Ấn Độ Dương, Thái Bình Dương và Biển Đông. Nằm trên một đường đứt gãy kiến tạo, Indonesia là khu vực chịu ảnh hưởng của động đất, núi lửa phun trào, bão lũ và hạn hán. Các bài viết có thể xem thêm: + tls là gì + Thị trường tiền tệ là gì + các giai đoạn phát triển của marketing * Dân số: Theo báo cáo dân số thế giới của Ủy ban Xã hội thuộc Liên hợp quốc, năm 2012, dân số Indonesia vào khoảng 245 triệu dân, đứng thứ 4 trên thế giới với tỷ lệ 122 triệu nam giới (chiếm 49,8%) và 123 triệu nữ giới (chiếm 50,2%). Tổng dân số tăng 1,3%/năm trong giai đoạn 2000-2005 và 1,1%/năm giai đoạn 2005-2010, tương đương khoảng 2,5 triệu dân/năm. Mức tăng trưởng này dự báo sẽ giảm xuống 1,0% mỗi năm trong giai đoạn 2010-2015 và 0,8% giai đoạn 2015-2020. * Ngôn ngữ: Ngôn ngữ chính thức là tiếng Indonesia (Bahasa Indonesia), có sự liên quan mật thiết với tiếng Mã Lai, nhưng bên cạnh đó có tới hơn 300 ngôn ngữ địa phương, trong đó quan trọng nhất là ngôn ngữ Java. Tiếng Anh và tiếng Anh “bồi” được sử dụng rộng rãi ở các thành phố, tiếng Hà Lan ngày càng mất ảnh hưởng. * Tôn giáo: Điều tra năm 2000 đã đưa ra số liệu thống kê dân số theo tôn giáo như sau: đạo Hồi chiếm 86%; đạo Tin Lành chiếm 6%; Công giáo La Mã chiếm 3%; đạo Hinđu chiếm 2%; còn lại 3% thuộc tôn giáo khác. Hầu hết người Indonesia cảm thấy thoải mái với đạo Hồi, nhưng ở một số khu vực cũng có những căng thẳng xã hội giữa người theo đạo Kitô và người theo đạo Hồi. * Môi trường kinh tế: Trong những năm gần đây, Indonesia trở thành một trong những nước có nền kinh tế năng động hơn trên thế giới, và hiện nay là nền kinh tế lớn thứ 16 trên thế giới. Indonesia là một trong những thành viên sáng lập của tổ chức ASEAN và là thành viên của hội nghị G20 của các nền kinh tế lớn. Năm 1997, kinh tế Indonesia bị ảnh hưởng nặng nề bởi cuộc khủng hoảng tài chính châu Á, nhưng trong giai đoạn khủng hoảng kinh tế thế giới 2008-2009 thì nước này lại vượt qua tương đối dễ dàng. Năm 2009 Indonesia là một trong số ít các nước thành viên G20 đạt được tăng trưởng kinh tế tích cực. Hàng loạt lĩnh vực kinh tế đạt tăng trưởng tốt, được thúc đẩy bởi cả tăng trưởng xuất khẩu và nhu cầu tiêu dùng trong nước. Chính sách khôn ngoan của Chính phủ đã giúp duy trì thâm hụt ngân sách và nợ công ở mức vừa phải và lạm phát thấp so với trước đây. * Chính sách du lịch: Vào cuối năm 2011, chính phủ Indonesia đã bổ nhiệm Tiến sĩ Mari Elka Pangestu, nguyên Bộ trưởng Thương mại – một người được đánh giá là có trình độ cao và rất năng động, để làm Bộ trưởng Bộ Du lịch (sau đó được đổi tên thành Bộ Du lịch và Kinh tế sáng tạo). Điều này đã đã cho thấy sự chú trọng của chính phủ Indonesia tới vai trò của du lịch trong nền kinh tế đất nước. Báo cáo năng lực cạnh tranh Du lịch và Lữ hành của Diễn đàn Kinh tế Thế giới (WEF) năm 2011 xếp Indonesia đứng thứ 13 trong khu vực Châu Á – Thái Bình Dương và đứng thứ 74 trên thế giới – tăng 7 bậc so với vị trí trong Báo cáo năm 2009. Liên quan tới các chỉ số ảnh hưởng đến du lịch outbound, Indonesia đứng thứ 4 trên thế giới về cạnh tranh giá trong ngành du lịch và lữ hành, một phần do giá vé tham quan và lệ phí sân bay thấp (đứng thứ 16); xếp thứ 17 về tác động của thuế nói chung và thứ 19 về mức giá nhiên liệu ưu đãi. Ngoài ra, Indonesia còn xếp thứ 15 về mức độ ưu tiên quốc gia cho du lịch; xếp thứ 32 về mức độ cởi mở hợp tác song phương trong lĩnh vực dịch vụ hàng không và xếp thứ 37 về mạng lưới hàng không quốc tế. Tuy nhiên, báo cáo cũng cho thấy, những thế mạnh trên bị hạn chế bởi cơ sở hạ tầng trong nước kém phát triển, trong đó có cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin và truyền thông (đứng thứ 96) và mối lo ngại liên quan tới an toàn và an ninh, đặc biệt là sự thiếu tin tưởng vào dịch vụ cảnh sát và chi phí thiệt hại có thể xảy ra do khủng bố. Chiến lược phát triển sản phẩm du lịch của Indonesia Indonesia đã xây dựng xong chiến lược tổng thể phát triển sản phẩm du lịch đến năm 2025, theo đó tư tưởng chính sẽ tập trung nâng cao chất lượng du lịch. Mục đích của chiến lược phát triển du lịch đến năm 2025 của Indonesia sẽ phát triển khoảng 50 điểm đến quy mô quốc gia với một số “hành lang du lịch”, lượng khách quốc tế dự kiến đến thời điểm này dự kiến đạt 25 triệu lượt người. Cùng với chiến lược là một kế hoạch phát triển đến năm 2015 cũng đã hoàn tất với nội dung tập trung phát triển 3 loại hình du lịch chính là du lịch sinh thái, du lịch nông thôn và du lịch biển. Đối với du lịch nông thôn sẽ triển khai trên 54 điểm, du lịch sinh thái là 50 điểm ở các vườn quốc gia. Indonesia có chủ trương phát triển du lịch dựa vào cộng đồng. Chính phủ hỗ trợ phát triển bằng việc cho thuê đất với giá rẻ để cộng động làm du lịch, đồng thời hướng dẫn và đào tạo cộng đồng về nghiệp vụ du lịch. Các sản phẩm chính được định hướng: du lịch di sản, du lịch sinh thái, du lịch đánh golf, du lịch lặn biển, du lịch MICE. Ở Indonesia, Vụ Thị trường của Cục Xúc tiến Indonesia có nhiệm vụ theo dõi diễn biến thị trường, định hướng và tổ chức các hoạt động xúc tiến quảng bà du lịch ở cấp quốc gia. Từ việc theo dõi thị trường và đánh giá tình hình, xu hướng phát triển kinh tế – xã hội và du lịch, Indonesia chuyển hướng thu hút thị trường khách du lịch ASEAN. Ngân sách xúc tiến quảng bá du lịch năm 2010 của Indonesia vào khoảng 40 triệu USD. Đối với việc phát triển sản phẩm du lịch, đặc biệt tại địa bàn đảo Bali – một trong những điểm du lịch nổi bật của Indonesia thì những thành công chính nằm ở vấn đề như tôn trọng ý kiến, tập tục và tư duy của người bản địa; nâng cao nhận thức về phát triển du lịch theo một quá trình; ban hành các quy định chặt chẽ và rõ ràng về kiến thức, có quan điểm bảo tồn và giữ gìn các giá trị văn hóa truyền thống. Năm 2012, với sự hợp tác của Tổ chức Lao động quốc tế (ILO), Bộ Du lịch và Kinh tế sáng tạo Indonesia đã ban hành “Kế hoạch chiến lược Phát triển du lịch bền vững và Việc làm xanh cho Indonesia” với tầm nhìn “Nâng cao sự thịnh vượng và chất lượng cuộc sống cho người dân Indonesia thông qua phát triển du lịch và kinh tế sáng tạo”. Hiển nhiên, bền vững là yếu tố quan trọng nhất trong việc hiện thực hóa tầm nhìn này, bởi chất lượng cuộc sống không thể bảo đảm nếu thiếu sự bền vững. Kế hoạch này hình thành khung chiến lược cho hoạch định du lịch bền vững, đồng thời đưa ra những giải pháp chiến lược cùng phương cách thực hiện nhằm đạt được sự bền vững và việc làm xanh trong du lịch. Tiếp cận theo hướng này, Bộ Du lịch và Kinh tế sáng tạo Indonesia hy vọng rằng ý tưởng về tính bền vững và việc làm xanh sẽ được lồng ghép trong mọi chính sách liên quan đến phát triển du lịch ở Indonesia. * Định hướng của “Kế hoạch chiến lược Phát triển du lịch bền vững và Việc làm xanh cho Indonesia”: – Thay đổi tư duy của tất cả các bên liên quan; – Xây dựng và áp dụng các chỉ số đo lường du lịch bền vững; – Làm quen với tư duy mới về Việc làm xanh và Du lịch bền vững; – Ban hành cơ chế kiểm soát, quản lý chiến lược và thực thi chiến lược. * Những giải pháp thực hiện: – Thúc đẩy việc làm xanh thông qua phát triển du lịch bền vững: nhằm đạt được mục tiêu về hiệu suất làm việc trong khi bảo đảm sự tự do, công bằng, an toàn, phẩm giá con người và giảm thiểu tác động tiêu cực tới môi trường, trong cả khu vực kinh tế chính thức và phi chính thức. – Ưu tiên giảm nghèo trong ngành du lịch: nhằm giảm nghèo cho cộng đồng địa phương, bảo vệ các nguồn tài nguyên tự nhiên, văn hóa và lối sống của người dân bản địa. Giảm nghèo trong du lịch liên quan tới các vấn đề: giám sát và đánh giá tác động môi trường của du lịch; hỗ trợ việc làm liên quan đến du lịch ở khu vực nông thôn như du lịch sinh thái, du lịch nông nghiệp; tăng cường phối hợp và trao đổi; giải quyết tình trạng thất nghiệp hiện tại. – Nâng cao cơ hội việc làm cho thanh niên trong ngành du lịch và phát triển du lịch thanh niên: nhằm hỗ trợ thanh niên nhận thức được tầm quan trọng của tính bền vững trong các hoạt động du lịch của mình. Chính họ là những người có tiềm năng làm việc trong ngành du lịch với kỹ năng tốt và nhận thức đầy đủ về khái niệm bền vững trong quản lý, vận hành và xây dựng hệ thống du lịch trong tương lai. – Bảo vệ phụ nữ và trẻ em chống lại những vấn đề về giới và trẻ em: mục tiêu ở đây là tạo cơ hội cho phụ nữ có việc làm được trả công tốt hơn, tương đương với những đồng nghiệp nam ở cùng vị trí, cùng trình độ kỹ năng, giúp họ có điều kiện làm việc tốt hơn. Đồng thời, loại bỏ mọi hình thức lao động trẻ em trong ngành. – Xây dựng hệ thống tiêu chuẩn tự nguyện trong du lịch bền vững: nhằm xây dựng bộ tiêu chuẩn về đạo đức trong ngành, xây dựng các tiêu chuẩn và chương trình chứng nhận trong du lịch bền vững. Đây sẽ là cơ sở vững chắc để phát triển du lịch, tạo cơ hội cho tất cả các bên liên quan trong ngành dễ dàng tương tác với nhau theo những chuẩn mực này. – Coi đào tạo và nghiên cứu du lịch là một ưu tiên trong chiến lược đào tạo và nghiên cứu của đất nước: Du lịch nói chung và du lịch bền vững nói riêng là ngành đòi hỏi phải có kiến thức, do vậy cần có nguồn nhân lực có trình độ phù hợp ở cả khu vực nhà nước và tư nhân. Đào tạo cho nhân lực của tất cả các bên liên quan ở tất cả các cấp là một yêu cầu bắt buộc. – Xác định những đối tác tiềm năng ở địa phương: Chiến lược phát triển du lịch bền vững tại địa phương cần được xây dựng phù hợp với tiềm năng, điều kiện và các ưu tiên chính sách của địa phương đó. – Triển khai marketing sáng tạo và có lựa chọn: Để bảo đảm công tác marketing điểm đến được hiệu quả cần phân bổ ngân sách lớn và được sử dụng một cách khôn ngoan. Về dài hạn, cần phải đầu tư thích đáng vào nghiên cứu thị trường, qua đó xây dựng chiến lược marketing sáng tạo và hiệu quả về chi phí, cũng như tìm ra được những thị trường tiềm năng. – Áp dụng cách tiếp cận bền vững trong hoạch định du lịch: Cách tiếp cận này đặt cộng đồng và con người là những đối tượng chính của du lịch, qua đó nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống của cộng đồng địa phương nơi diễn ra hoạt động du lịch, đồng thời thỏa mãn nhu cầu của khách du lịch. – Thành lập một cơ quan điều phối duy nhất cho phát triển du lịch bền vững: Vấn đề chính trong điều hành ở các cấp là các cơ quan du lịch thường thiếu năng lực trong phối hợp với các ngành liên quan. Do vậy, cần có một cơ quan điều phối đủ sức mạnh để chỉ đạo hoạt động của các bên liên quan. Cơ quan này cần được thành lập ở cả cấp tỉnh/thành phố và các địa phương. Kết quả đạt được Theo Cục thống kê Trung ương Indonesia (BPS), các điểm đến hàng đầu ở Indonesia là Bali, Tây Java, Trung Java, Đông Java, Jakarta, Bắc Sumatra, Lampung, Nam Sulawesi, Nam Sumatra, Banten và Tây Sumatra. Như hầu hết các quốc gia khác, khách du lịch nội địa là phân khúc thị trường lớn nhất. Thời gian khách nội địa đi lại nhiều nhất là dịp lễ Eid ul-Fitr diễn ra trong thời gian 2 tuần sau tháng ăn chay Ramadan. Thời gian này rất nhiều người dân theo đạo Hồi đi lại thăm bà con ở quê. Giao thông trong nội đô thường xảy ra ùn tắc và có thể người tham gia giao thông sẽ bị tính thêm phí. Trong giai đoạn 5 năm đầu thế kỷ 21, Indonesia đặt trọng tâm thu hút khách du lịch nội địa. Sự cạnh tranh giữa các hãng hàng không giá rẻ đã làm tăng lượng khách du lịch nội địa bằng đường hàng không trong cả nước. Gần đây, Bộ Lao động Indonesia đã có chính sách tạo ra các kỳ nghỉ cuối tuần dài hơn khi kết hợp với các kỳ nghỉ lễ quốc gia nếu rơi vào gần dịp cuối tuần, trừ trường hợp diễn ra các dịp lễ tôn giáo quan trọng. Trong những dịp nghỉ cuối tuần dài này, hầu hết các khách sạn tại các điểm đến nổi tiếng đều kín phòng. Từ năm 2000, tính trung bình mỗi năm có khoảng 5 triệu khách quốc tế đến Indonesia, chi tiêu trung bình khoảng 100 USD/ngày, thời gian chuyến đi trung bình từ 9-12 ngày; mang lại nguồn thu ngoại tệ hàng năm khoảng 4,6 tỷ USD cho đất nước. Nguồn thu này đưa du lịch trở ngành quan trọng thứ ba trong nền kinh tế Indonesia sau ngành gỗ và dệt may (không tính các ngành dầu khí và gas). Trung Quốc đã vượt qua Nhật Bản và Úc để trở thành thị trường nguồn lớn thứ ba của Indonesia, đạt mức tăng trưởng hàng năm khoảng 30,42%. Theo số liệu trong quý 1 năm 2014, những quốc gia thị trường nguồn hàng đầu của Indonesia đến từ khu vực châu Á – Thái Bình Dương, trong đó Singapore (tăng 15,7%), Malaysia (14,0%), Trung Quốc (11,0), Úc và Nhật Bản. Vương quốc Anh, Pháp và Đức là những thị trường nguồn lớn nhất từ châu Âu. Mặc dù khách Hà Lan quan tâm đến tìm hiểu quan hệ lịch sử giữa hai nước, nhưng phần lớn khách châu Âu ưa thích các bãi biển khí hậu nhiệt đới ở Bali. Trong tổng số du khách quốc tế đến Indonesia, khoảng 59% vì mục đích nghỉ dưỡng, 38% vì mục đích công việc. Năm 2012, theo Hội đồng Du lịch và Lữ hành thế giới, du lịch và lữ hành đóng góp khoảng 8,9% GDP và tạo ra 8% trong tổng số việc làm của đất nước. Ở Indonesia, tự nhiên và văn hóa là hai yếu tố nền tảng tạo dựng nên hệ thống sản phẩm du lịch. Các chiến dịch quảng bá du lịch tập trung mạnh vào xúc tiến các điểm đến nhiệt đới với biển xanh, cát trắng và các thắng cảnh văn hóa. Các khu nghỉ dưỡng và khách sạn ven biển đã được phát triển ở một số điểm đến nổi tiếng, đặc biệt là đảo Bali. Trong khi đó, du lịch văn hóa được xem là một phần không thể tách rời của ngành du lịch Indonesia. Ngược lại, phát triển du lịch sẽ góp phần phát huy và bảo tồn di sản văn hóa. Với tiềm năng và chính sách nhất quán như vậy, Indonesia tập trung phát triển những loại hình sản phẩm du lịch sau: * Về du lịch tự nhiên, Indonesia sở hữu hệ sinh thái và rừng mưa đa dạng, phong phú được bảo vệ tốt, bao phủ khoảng 57% diện tích đất liền Indonesia, trong đó khoảng 2% là rừng đước. Một trong những nguyên nhân khiến hệ sinh thái tự nhiên ở Indonesia được bảo vệ tốt là do chỉ có 6.000 trong tổng số 17.000 hòn đảo của đất nước này là có người sinh sống thường xuyên. Những khu rừng ở Sumantra và Java là những điểm du lịch rất nổi tiếng. Hơn nữa, Indonesia có đường bờ biển vào hàng dài nhất trên thế giới (khoảng 54.000km), với rất nhiều bãi biển và khu nghỉ dưỡng. Tuy nhiên, hầu hết các bãi biển còn nguyên sơ nằm tại những khu vực biệt lập và kém phát triển như các đảo Karimunjawa, Togian, Banda. – Lặn biển: Indonesia là một điểm đến đầy tiềm năng cho loại hình du lịch lặn biển với hơn 17.000 hòn đảo, trên 3.000 loài cá khác nhau, 600 loài san hô, các luồng nước sâu, miệng núi lửa dưới đáy biển, xác tàu chiến từ thời chiến tranh thế giới thứ 2 và thế giới sinh vật đa dạng. Du lịch lặn biển ở đây được đánh giá là tuyệt hảo và không hề đắt đỏ. – Lướt sóng: cũng là một loại hình du lịch phổ biến ở Indonesia và được xem là có đẳng cấp quốc tế. Hầu hết các điểm lướt sóng nổi tiếng nằm ở phía nam Indonesia, chẳng hạn như khu vực biển phía Ấn Độ Dương, ngoài ra có thể thưởng ngoạn ở các khu vực dọc theo Sumatra, xuống Nusa Tenggara, trong đó có Aceh, Bali, Banten, Java, Lombok, đảo Mentawai, và Sumbawa. Phần lớn người lướt sóng đến từ Úc và Mỹ. – Du lịch vườn quốc gia: Vườn quốc gia Bogor được thành lập năm 1817 và Vườn quốc gia Cibodas được thành lập năm 1862 là hai trong số những vườn quốc gia lâu đời nhất ở châu Á. Với sự đa dạng của các loài cây nhiệt đới, những vườn quốc gia này vừa là trung tâm nghiên cứu sinh vật cảnh, vừa là điểm du lịch thu hút khách. Có 50 vườn quốc gia ở Indonesia, trong đó 6 vườn quốc gia là Di sản thiên nhiên thế giới (bao vườn quốc gia Gunung Leuser, Kerinci Seblat Bukit Barisan Selatan ở Sumatra, vườn quốc gia Lorentz ở Papua, vườn quốc gia Komodo ở đảo Lesser Sunda, và vườn quốc gia Ujung Kulon ở Tây Java). Cần chú ý rằng, những vườn quốc gia khác nhau có đa dạng sinh học khác nhau bởi Indonesia là một đất nước rộng lớn, thế giới tự nhiên ở đây được chia thành hai khu vực: khu vực phía Tây gồm Sumantra, Java và Kalimantan có cùng đặc điểm động thực vật như lục địa châu Á; trong khi khu vực phía Đông có đặc điểm tương tự lục địa châu Úc. – Du lịch núi lửa: du lịch leo núi và cắm trại là những loại hình du lịch mạo hiểm phổ biến ở Indonesia. Một số ngọn núi còn có mạch sông, phù hợp cho hoạt động thể thao chèo bè, mảng trên sông. Mặc dù các ngọn núi lửa có thể gây nguy hiểm nhưng chúng đã trở thành những điểm đến nổi tiếng. Những ngọn núi lửa còn hoạt động nổi tiếng là ngọn Bromo cao 2.329m ở Đông Java, ngọn Tangkuban Perahu có hình chiếc thuyền nằm úp, ngọn Merapi gần Yogyakarta và ngọn Krakatau huyền thoại. Ngọn Gede Pangrango ở Tây Java cũng là điểm leo núi được ưa thích, đặc biệt là đối với người dân trong nước. * Về du lịch văn hóa, Indonesia có 300 nhóm dân tộc, tạo nên một sự đa dạng về văn hóa, cộng thêm ảnh hưởng của đạo Hindu, đạo Phật, đạo Hồi và văn hóa thời thực dân châu Âu. Mặc dù chịu ảnh hưởng của văn hóa bên ngoài, nhưng văn hóa bản địa Indonesia vẫn duy trì được những nét độc đáo riêng có. Ví dụ ở Yogyakarta, du lịch văn hóa là một phần rất quan trọng, đây là một tỉnh được coi là trung tâm văn hóa và mỹ thuật truyền thống Java. Sự thăng trầm của các vương quốc Hindu, Phật giáo và Hồi giáo ở Trung Java đã biến Yogyakarta thành một nơi hòa trộn các nền văn hóa Indonesia. Hầu hết các thành phố lớn ở Indonesia đều có các bảo tàng nhà nước, mặc dù quy mô trưng bày còn hạn chế. Bảo tàng lớn nhất giới thiệu lịch sử và văn hóa Indonesia từ thời kỳ tiền sử cho tới thời kỳ thuộc địa là Bảo tàng Quốc gia Indonesia nằm ở thủ đô Jakarta. – Du lịch đền thờ cổ: Từ thế kỷ thứ 4 đến thế kỷ thứ 15, đạo Hindu và đạo Phật định hình văn hóa Indonesia. Thời kỳ này các vương quốc nổi lên và suy tàn như Medang, Srivijaya, Kediri, Singhasari và Majapahit, đã để lại nhiều đền thờ và di tích gọi là candi. Đền thờ Phật giáo được bảo tồn tốt nhất là Đền Borobudur ở Trung Java, được xây dựng vào triều đại Sailendra thế kỷ thứ 8. Cách đó vài km về phía đông nam là đền Prambanan, ngôi đền Hindu lớn nhất Indonesia, được xây dựng vào triều đại Mataram đệ nhị. Ngôi đền thờ Shiva, Vishnu và Brahma – ba vị thần tối cao trong đạo Hindu. Cả đền Borobudur và Prambanan đã được UNESCO công nhận là Di sản văn hóa thế giới vào năm 1991. Ngoài ra ở quanh Yogyakarta, có thể tìm thấy rất nhiều đền thờ cổ, tuy không lớn và nổi tiếng như hai ngôi đền trên, nhưng cũng thể hiện được đặc trưng văn hóa cổ Indonesia và kiến trúc đền đài cổ Java. – Du lịch di sản Hồi giáo: Hồi giáo có đóng góp rất lớn trong hình thành xã hội văn hóa ở Indonesia. 88% người dân Indonesia là theo đạo Hồi. Văn hóa đạo Hồi rất phổ biến ở Sumantra. Du lịch di sản Hồi giáo rất phổ biến ở Indonesia, đặc biệt là đối với người theo đạo Hồi ở Indonesia và những nước láng giềng như Malaysia, Singapore và Brunei vốn có cùng nền văn hóa Hồi giáo Đông Nam Á. Đối với du khách khi đến tham quan các di tích Hồi giáo, dù là người dân địa phương hay người nước ngoài, theo đạo Hồi hay không, thì cũng phải tuân thủ các quy định về trang phục và hành xử. Hầu hết các thành phố lớn ở Indonesia đều có các đền thờ Hồi giáo, vừa là biểu tượng của thành phố, vừa là điểm quan quan cho khách du lịch. – Du lịch di sản thuộc địa: Loại hình du lịch này chủ yếu tập trung vào khám phá lịch sử Indonesia, chẳng hạn như kiến trúc thuộc địa thời kỳ Đông Ấn Hà Lan vốn thu hút đối tượng khách du lịch đến từ Hà Lan cung như là những người yêu thích lịch sử thuộc địa Indonesia ở trong và ngoài nước. Du lịch thuộc địa bao gồm cả các hoạt động khác như thăm bảo tàng, nhà thờ, pháo đài, và các tòa nhà thuộc địa, hay ngủ lại các khách sạn thuộc địa. Các điểm du lịch thuộc địa nổi tiếng là Kota – trung tâm của Jakarta cổ với bảo tàng hàng hải, cầu nâng Kota Intan, bảo tàng Wayang, bảo tàng mỹ thuật gốm sứ, bảo tàng Ngân hàng Indonesia, khu Chinatown ở Indonesia…
  8. KẾ TOÁN XÁC ĐỊNH KẾT QUẢ KINH DOANH VÀ PHÂN TÍCH KẾT QUẢ KINH DOANH TẠI CÔNG TY TRÁCH NHIỆM HỮU HẠN MỘT THÀNH VIÊN THƯƠNG MẠI DỊCH VỤ MINH TÂN Khái niệm – Kết quả kinh doanh là phần thu nhập còn lại sau khi trừ đi tất cả các chi phí. Kết quả kinh doanh là mục đích cuối cùng của mọi doanh nghiệp, nó phụ thuộc vào quy mô và chất lượng của quá trình sản xuất kinh doanh. – Xác định kết quả kinh doanh là so sánh chi phí bỏ ra và thu nhập đạt được trong cả quá trình kinh doanh. Nếu thu nhập lớn hơn chi phí thì kết quả là lãi, ngược lại kết quả kinh doanh là lỗ. Việc xác định kết quả kinh doanh thường được tiến hành vào cuối kỳ hạch toán tháng, quý hay năm tuỳ thuộc vào đặc điểm kinh doanh và yêu cầu quản lý của từng doanh nghiệp. Các bài có thể xem thêm: + định chế tài chính + các nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển và phân bố công nghiệp – Kế toán xác định kết quả kinh doanh là nhằm xác định kết quả hoạt động sản xuất, kinh doanh và các hoạt động khác của doanh nghiệp trong một kỳ kế toán. – Kết quả hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp bao gồm kết quả của hoạt động sản xuất, kinh doanh; kết quả hoạt động tài chính; kết quả hoạt động bất thường. Nguyên tắc kế toán xác định kết quả kinh doanh – Phải phản ánh đầy đủ, chính xác các khoản kết quả hoạt động kinh doanh của kỳ kế toán theo đúng quy định của chính sách tài chính hiện hành. – Kết quả hoạt động kinh doanh phải được hạch toán chi tiết theo từng hoạt động (hoạt động sản xuất, chế biến, hoạt động kinh doanh thương mại, dịch vụ, hoạt động tài chính, …). Trong từng loại hoạt động kinh doanh có thể cần hạch toán chi tiết cho từng loại sản phẩm, từng ngành hàng, từng loại dịch vụ. – Các khoản doanh thu và thu nhập được kết chuyển vào tài khoản 911 – Xác định kết quả kinh doanh là số doanh thu và thu nhập thuần. Nội dung kế toán xác định kết quả kinh doanh – Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh: Là khoản chênh lệch giữa doanh thu thuần và giá vốn hàng bán (gồm cả sản phẩm, hàng hoá, bất động sản đầu tư và dịch vụ, giá thành sản xuất của sản phẩm xây lắp, chi phí liên quan đến hoạt động kinh doanh bất động sản đầu tư như: Chi phí khấu hao, chi phí sửa chữa, nâng cấp, chi phí cho thuê hoạt động, chi phí thanh lý, nhượng bán bất động sản đầu tư), chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp trong một kỳ kế toán. – Kết quả hoạt động tài chính: Là chênh lệch giữa thu nhập từ hoạt động tài chính và chi phí hoạt động tài chính. – Kết quả hoạt động khác: Là chênh lệch giữa các khoản thu nhập khác với các khoản chi phí khác. Tổ chức kế toán xác định kết quả kinh doanh Kế toán doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ Kế toán chi phí quản lý kinh doanh Kế toán doanh thu hoạt động tài chính Kế toán chi phí hoạt động tài chính Kế toán thu nhập khác Kế toán chi phí khác Kế toán chi phí thuế thu nhập doanh nghiệp Kế toán xác định kết quả kinh doanh Nguồn : https://baocaototnghiep.net/ke-toan-xac-dinh-ket-qua-kinh-doanh-va-phan-tich-ket-qua-kinh-doanh/
  9. 1. Khái niệm sip server là gì? Máy chủ SIP là thành phần chính của hệ thống IP PBX, nó đảm đương việc thiết lập mọi cuộc gọi SIP trong mạng. Máy chủ SIP còn được gọi là máy SIP Proxy hay máy đăng kiểm (Registrar). SIP (Session Initiation Protocol) là giao thức dùng để báo tin (signalling) trong các ứng dụng như Internet conferencing, telephony, event notification và instant messaging. Các bài viết có thể xem thêm: + msconfig là gì + cổng console là gì 2. Tổng quan về SIP server + SIP được chuẩn hóa bởi IETF + SIP là giao thức hoạt động ở lớp application trong mô hình OSI + Chức năng chính của SIP – Mời người dùng tham gia vào một phiên liên lạc (communication session hay còn gọi là transaction). Để làm được điều đó, nó phải có khả năng biết người dùng online/offline, biết khả năng của thiết bị của người dùng (terminal capacity) – Thiết lập phiên (chuyển tải thông tin liên quan đến phiên liên lạc – session description) – Quản lý phiên liên lạc – Thay đổi các đặc tính liên quan đến phiên liên lạc – Kết thúc phiên + Đặc điểm ưu việt của SIP– Việc tạo lập phiên là out of band – SIP đơn giản và rất giống với HTTP – Địa chỉ SIP với định dạng URL sip:utilisateur@adresse, tel@domaine – Support liên lạc với thời gian thực + Hạn chế của SIP– Dựa trên địa chỉ IP: gặp vấn đề nếu mạng dùng NAT. Nhưng có thể giải quyết nhờ vào cơ chế client-server như STUN, hoặc sử dụng SIP cùng với Jabber. – Bên cạnh SIP còn có H323 (cái này sắp biến mất để nhường chổ cho SIP), và những giao thức riêng như trường hợp Skype. – SIP sẽ gặp những hạn chế trong quá trình quản lý “presence” (online/offline) cũng như IM. Cái này sẽ được khắc phục nếu dùng kèm với Jabber. 3. Các thành phần trong mạng SIP sever Một mạng SIP bao gồm 4 thành phần: User Agents Proxy Server Redirect Server Registrar Server Mỗi thành phần thực hiện với những chức năng khác nhau và độc lập với các thành phần khác trong mạng. các thành phần proxy server, redirect server, registrar server là các thành phần tùy chọn chúng có thể không xuất hiện, tuy nhiên trong thực tế để đảm bảo tính bảo mật thì các cuộc gọi trước khi diễn ra đều phải thông qua quá trình chứng thực cuộc gọi, lúc này cần có sự xuất hiện của proxy server để làm nhiệm vụ chứng thực, các thành phần như redirect server, registrar server, location server thường được tích hợp luôn vào trong proxy server. Mỗi thành phần trong mạng SIP được xác định thông qua một địa chỉ URI(Uniform Resource Information). User Agent(UA) User agent là các đầu cuối trong mạng SIP, nó đại diện cho phía người sử dụng để khởi tạo một yêu cầu tới SIP server hoặc user agent server. Trong user agent có user agent client(UAC) và user agent server(UAS). UAC có trách nhiệm tạo ra các yêu cầu(requests) và nhận các phản hồi từ các yêu cầu đó, còn UAS có trách nhiệm nhận các yêu cầu và tạo ra các phản hồi(response) tương ứng với các yêu cầu đó. Nguồn: https://vietluanvanthue.com/khai-niem-sip-server-la-gi-giao-thuc-tao-phien/
  10. - Chất lượng là kết quả sự tác động của hàng loạt các yếu tố có liên quan chặt chẽ với nhau. Muốn đạt được chất lượng như mong muốn cần phải quản lý một cách đúng đắn các yếu tố này. Chất lượng của sản phẩm, dịch vụ chịu ảnh hưởng đồng thời bởi các yếu tố bên trong và cả bên ngoài tổ chức Các bài viết có thể xem thêm: + chất lượng nguồn nhân lực + luật vệ sinh an toàn thực phẩm mới nhất – Nhóm yếu tố bên ngoài (vĩ mô): + Tình hình phát triển kinh tế thế giới. + Tình hình thị trường. + Trình độ khoa học-công nghệ. + Môi trường pháp lý của mỗi quốc gia + Các yêu cầu về văn hoá, xã hội. – Nhóm yếu tố bên trong (vi mô): + Quy tắc 4M thể hiện bốn yếu tố trong tổ chức ảnh hưởng đến chất lượng. Ø Men (con người)-M1. Ø Materials (vật tư, nguyên nhiên liệu và hệ thống cung cấp)-M2. Ø Methods or Measure (Phương pháp, cách thức quản lý, đo lường)-M3. Ø Machines (Khả năng về công nghệ, máy móc thiết bị)-M4. + Quy tắc PPM: Ø Planning (Hoạch định)-P Ø Prevention (Phòng ngừa)-P Ø Monitoring (Giám sát)-M Nguồn : https://nhanvietluanvan.com/yeu-to-anh-huong-den-chat-luong-san-pham/
  11. Khái niệm và phân loại động cơ trong kinh tếÝ tưởng nghiên cứu động cơ hoạt động của con người đã tồn tại rất lâu trong lịch sử tâm lý học và có nhiều cách lý giải khác nhau về động cơ.Các bài có thể xem thêm:+ Mục tiêu của chính sách tiền tệ+ lạm phát tiền tệKhái niệm động cơ lao độngTheo thuyết phân tâm học: Động lực thúc đẩy hoạt động của con người là vô thức. Nguồn gốc vô thức là những bản năng nguyên thủy mang tính sinh vật và nhấn mạnh vai trò của các xung năng tính dục.Theo thuyết hành vi: Với mô hình “kích thích – phản ứng”, coi kích thích là nguồn gốc tạo ra phản ứng hay gọi là động cơ.Theo J. Piaget: “Động cơ là tất cả các yếu tố thúc đẩy cá thể hoạt động nhằm đáp ứng nhu cầu và định hướng cho hoạt động đó.” (Alderfer, C. P. (1972))Theo thuyết tâm lý hoạt động: Những đối tượng nào được phản ánh vào óc ta mà có tác dụng thúc đẩy hoạt động, xác định phương hướng hoạt động để thỏa mãn nhu cầu nhất định thì được gọi là động cơ hoạt động.Động cơ theo nghĩa rộng nhất được hiểu là cái thúc đẩy con người hoạt động làm thỏa mãn nhu cầu, là cái làm nảy sinh tính tích cực và xu hướng của tính tích cực đó. Động cơ là nguyên nhân trực tiếp của hành vi. Theo từ điển Tiếng Việt, động cơ là cái có tác dụng chi phối, thúc đẩy con người ta suy nghĩ và hành động.Các nhà tâm lý học Xô Viết quan niệm: “Động cơ là sự phản ánh nhu cầu”. Những đối tượng đáp ứng nhu cầu này hay nhu cầu khác tồn tại trong hiện thực khách quan, một khi chúng bộc lộ ra và được chủ thể nhận biết thì sẽ thúc đẩy, hướng dẫn con người hoạt động. Nói khác đi, khi nhu cầu gặp đối tượng có khả năng thỏa mãn thì trở thành động cơ. Động cơ là sự biểu hiện chủ quan có nhu cầu.Phân loại động cơCó nhiều cách phân loại động cơ: Động cơ ham thích và động cơ nghĩa vụ; động cơ quá trình và động cơ kết quả; động cơ gần và động cơ xa; động cơ cá nhân, động cơ xã hội, động cơ công việc; động cơ bên trong và động cơ bên ngoài; động cơ tạo ý và động cơ kích thích. Ngoài ra, cũng có nhiều cách hiểu nữa về động cơ:X.L. Rubinstein viết: “Động cơ của con người được tạo ra từ những nhu cầu, hứng thú được hình thành ở con người trong quá trình sống”.(X.L. Rubinstein 1980)Người đại diện cho chủ nghĩa Freud hiểu động cơ là những năng lượng sinh học đặc biệt, năng lượng này được tạo ra bởi những bản năng của con người, trong đó quan trọng nhất là bản năng tình dục.Bên cạnh đó, tâm lý học Mácxit cho rằng: Những động cơ hoạt động của con người cực kỳ đa dạng, nảy sinh từ những nhu cầu, hứng thú khác nhau: động cơ không phải là sự trải nghiệm của nhu cầu mà là đối tượng thỏa mãn nhu cầu của chủ thể. Một hoạt động có thể có nhiều động cơ thúc đẩy và trong cấu trúc của hoạt động, những động cơ này được sắp xếp theo một hệ thống có thứ bậc.Khi muốn tìm hiểu, nghiên cứu hoạt động của con người thì không thể không xét đến động cơ của hành động đó. Đã là hành động tâm lý thì phải có động cơ phù hợp. Không thể có một hành động nào mà không có động cơ, hành động “không có động cơ” không phải là hành động thiếu động cơ mà là hành động với một động cơ ẩn giấu về mặt chủ quan và về mặt khách quan. Có thể nói động cơ chính là bản chất của hành động, nó quy định hoạt động của con người. Và động cơ chính là sự thúc đẩy suy nghĩ, mong muốn trong đầu con người ra bên ngoài hành động.Điều quan trọng về lý luận và thực tiễn là: động cơ tâm lý không phải thuần túy tinh thần bên trong cá thể. Động cơ không có khả năng tồn tại tự thân, nó phải hiện thân vào một thực thể khác là đối tượng của hoạt động. Đối tượng này có thể ở bên ngoài hoặc bên trong tâm lý.Nguồn : https://lamthueluanvan.net/khai-niem-va-phan-loai-dong-co-trong-kinh-te/
  12. Vài nét về quan hệ đối tác chiến lược Sau Chiến tranh lạnh, trong quan hệ quốc tế hình thành một số hình thức mới. Các quốc gia với thể chế chính trị, kinh tế khác nhau đã tìm những phương cách mới và áp dụng chúng một cách linh hoạt để thúc đẩy quan hệ với nhau. Một trong các hình thức quan hệ mới đó là việc thiết lập quan hệ đối tác chiến lược. Liên minh (Alliance): Là mối quan hệ hợp tác chính thức hoặc không chính thức giữa hai hoặc nhiều nước nhằm hỗ trợ lẫn nhau trên một mức độ nào đó về phối hợp chính sách liên quan đến các vấn đề về an ninh hiện tại và tương lai. Hình thái “an ninh tập thể” thường là cách thể hiện mô hình này. Theo đó các nước ký kết một hiệp ước (chính thức hoặc không chính thức) cam kết giúp đỡ nhau khi bất cứ thành viên nào bị đe dọa. Các bài có thể xem thêm:+ micro marketing là gì+ mã hóa+ tls là gì Chức năng của liên minh là để “củng cố an ninh của đồng minh” thông qua việc hợp tác để “hợp lực” chống lại một thế lực khác. Lịch sử quan hệ quốc tế cho thấy, sự phát triển của mô hình liên minh là các đồng minh đánh giá nhau qua khả năng trợ giúp nhau về mặt quân sự nhằm răn đe hoặc trừng phạt một liên minh đối lập. Đối tác (Partnership): Là thuật ngữ chỉ mối quan hệ cộng tác – hợp tác nhưng ở mức độ cao hơn và cụ thể hơn. Các nhà nghiên cứu định nghĩa: “Đối tác bao gồm hai hay nhiều bên hành động cùng nhau để nâng cao hợp tác bằng việc thực hiện những mục tiêu chung. Xây dựng những kênh/cơ chế giải quyết các bất đồng/tranh chấp, biện pháp thúc đẩy quan hệ hợp tác và phương pháp đánh giá tiến bộ cũng như chia sẻ những thành tựu hợp tác”. Hành động cùng nhau chung mục tiêu và chung lợi ích là những tiêu chí của quan hệ đối tác. Một mối quan hệ đối tác bao gồm sự gần gũi, bình đẳng, có đi có lại, và thỏa thuận về những mục tiêu chung. Chiến lược (Strategic): Nghĩa rộng là sự quan trọng có tính toàn cục, then chốt và có giá trị tương đối lâu dài về mặt thời gian, đặc biệt, trong các bối cảnh liên quan đến việc sử dụng sức mạnh quân sự. “Chiến lược” dùng để chỉ tính tổng thể, để tạo sự khác biệt với những chi tiết (chiến thuật); nghệ thuật sử dụng nguồn lực, kết hợp với các giá trị về đạo đức, để đạt được những mục tiêu. Trong nhiều tình huống, từ “chiến lược” thường liên quan đến các lĩnh vực an ninh – quân sự mặc dù không hoàn toàn là một thuật ngữ chỉ dùng trong lĩnh vực an ninh – quân sự. Đối tác chiến lược (Strategic Partnership) chỉ một mối quan hệ hợp tác quan trọng (nhưng không nhất thiết chỉ tập trung trong lĩnh vực an ninh – quân sự) vừa có tính hướng vào mục tiêu cụ thể, vừa có hàm ý mong muốn quan hệ lâu dài (quan hệ “win – win” cùng có lợi). Đặc điểm của quan hệ đối tác chiến lược là không có giới hạn về không gian, thời gian; không hạn chế về đối tượng áp dụng; không hạn chế về lĩnh vực hợp tác, và không nhất thiết phải mang nội dung an ninh – quân sự. Đối tác chiến lược là một dạng quan hệ hợp tác phong phú, trong đó thành phần, nội dung, hình thức, mức độ… hoàn toàn tùy thuộc vào sáng kiến của các bên. Các nhà nghiên cứu quốc tế cho rằng, hạn chế duy nhất đối với mối quan hệ đối tác chiến lược là “sức tưởng tượng của các bên tham gia”. Thuật ngữ “đối tác chiến lược” lần đầu được sử dụng vào khoảng những năm 1990, 1991 để chỉ quan hệ giữa Mỹ và Trung Quốc. Từ đó, thuật ngữ này được sử dụng rộng rãi. Theo quan niệm của GS. Va-lê-ri Lót-xkin (Nga), “đối tác chiến lược” phải bao gồm những nội dung sau: không tấn công lẫn nhau; không liên minh chống lại các nước khác; không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau; phải có lòng tin lẫn nhau. Đối với Mỹ, đối tác chiến lược phải bao gồm hợp tác chặt chẽ về quân sự, an ninh. Về hình thức: đối tác chiến lược có thể diễn ra linh hoạt (chính thức hoặc không chính thức, song phương hoặc đa phương, diện và mức độ tham gia rộng hoặc hẹp, nhiều hoặc ít…) và có tính mở vì không hướng tới một kết cục cụ thể. Trong thực tế, có những mối quan hệ tuy không phải là đối tác chiến lược, nhưng thực chất lại còn hơn cả đối tác chiến lược. Ví dụ: Quan hệ Mỹ – EU tuy không phải là đối tác chiến lược, nhưng mối quan hệ hợp tác thì vô cùng chặt chẽ. Còn quan hệ Bra-xin – EU tuy là quan hệ đối tác chiến lược nhưng mức độ quan hệ không thể so sánh được với quan hệ Mỹ – EU. Quan hệ đối tác chiến lược của Việt Nam Với Việt Nam, đối tác chiến lược là mối quan hệ chiến lược gắn với ngoại giao, kinh tế. Theo TS. Lê Hồng Hiệp (Học viện Ngoại giao): Quan hệ đối tác chiến lược mà Việt Nam quan niệm bao gồm hợp tác về an ninh, thịnh vượng và nâng cao vị thế quốc tế của Việt Nam. – An ninh: quan hệ đối tác chiến lược đó sẽ giúp cho Việt Nam củng cố nền tảng ngoại giao và quốc phòng, hỗ trợ tích cực cho Việt Nam trong việc giữ gìn an ninh, bảo toàn chủ quyền quốc gia và toàn vẹn lãnh thổ. – Thịnh vượng: mối quan hệ kinh tế với đối tác đó phải góp phần quan trọng vào sự phát triển kinh tế – xã hội của Việt Nam. Nó thể hiện trên các lĩnh vực: quan hệ thương mại, đầu tư, viện trợ phát triển (ODA) và chuyển giao công nghệ. Ví dụ như: thương mại song phương phải đạt kim ngạch tối thiểu 10 tỷ USD, đầu tư song phương đạt từ 5 tỷ USD trở lên,… Nếu các tiêu chí đó chưa đạt được thì phải xét đến quy mô và mức độ phát triển của quốc gia đó. – Nâng cao vị thế của Việt Nam: quốc gia đối tác chiến lược phải là những nước lớn, hoặc cường quốc hạng trung tiêu biểu; có vị thế và ảnh hưởng quan trọng, đáng kể đối với đời sống chính trị thế giới và khu vực. Ngoài 3 tiêu chí an ninh, thịnh vượng, nâng cao vị thế của Việt Nam cần phải có những tiêu chí khác nữa như quan hệ lâu dài, cùng có lợi (mức độ lợi ích có thể chia đều, hoặc hơn kém do hai nước quy định), có niềm tin tưởng vào nhau… Tháng 1-2013, nhân chuyến thăm I-ta-li-a của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, hai nước đã ký tuyên bố thiết lập quan hệ đối tác chiến lược Việt Nam – I-ta-li-a. Ngày 26-6-2013, Việt Nam và Vương quốc Thái Lan ra Tuyên bố chung Việt Nam – Thái Lan về chuyến thăm chính thức Thái Lan của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng theo lời mời của Thủ tướng Y. Si-na-oa-tra, theo đó, hai nhà lãnh đạo đã quyết định đưa quan hệ hai nước lên đối tác chiến lược. Trong buổi hội đàm ngày 27-6-2013 tại Gia-các-ta, Chủ tịch nước Trương Tấn Sang và Tổng thống In-đô-nê-xi-a S. B. Y-u-đô-y-ô-nô chính thức tuyên bố nâng cấp quan hệ Việt Nam – In-đô-nê-xi-a thành đối tác chiến lược, nhằm đưa quan hệ hai nước lên một tầm cao mới. Đây là những mối quan hệ đối tác chiến lược mới nhất mà Việt Nam thiết lập với một nước khác. Trước đó, Việt Nam đã thiết lập quan hệ đối tác chiến lược với Liên bang Nga (năm 2001), Nhật Bản (năm 2006), Ấn Độ (năm 2007), Trung Quốc (năm 2008), Hàn Quốc, Tây Ban Nha (năm 2009), Vương quốc Anh (năm 2010), và Đức (năm 2011). Trong các quan hệ đối tác chiến lược này, có một số mối quan hệ đã được nâng lên tầm “đối tác chiến lược toàn diện” như với Trung Quốc và Liên bang Nga. Bên cạnh đó, từ năm 2009, Việt Nam cũng đã thiết lập quan hệ “đối tác toàn diện” với Ô-xtrây-li-a. Trong chuyến thăm gần đây tới Pháp của Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Phạm Bình Minh, hai nước cũng thống nhất sẽ sớm nâng quan hệ song phương lên tầm “đối tác chiến lược”. Việc mở rộng và làm sâu sắc hơn quan hệ với những quốc gia quan trọng trên thế giới phù hợp với lợi ích của mỗi nước, góp phần vào hòa bình, ổn định, thịnh vượng của khu vực và thế giới chính là sự thể hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hợp tác và phát triển; đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế; Việt Nam là bạn, đối tác tin cậy và là thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế./.
  13. 1. Khái niệm gis là gìHệ thống thôn tin (gis) là một công cụ máy tính để lập bản đồ và phân tích các sự vật, hiện tượng thực trên trái đất. Công nghệ gis kết hợp các thao tác cơ sở dữ liệu thông thường như cấu trúc hỏi đáp và các phép phân tích thống kê, phân tích địa lý trong đó phép phân tích địa lý và hình ảnh được cung cấp duy nhất từ các bản đồ.Các bài viết có thể xem thêm:+ sự hài lòng của khách hàng+ bảo lãnh ngân hàng là gì2. Các nhiệm vụ của gis là gìNhiệm vụ gis thứ nhất – Nhập dữ liệuTrước khi dữ liệu địa lý có thể được dùng cho GIS, dữ liệu này phải được chuyển sang dạng số thích hợp. Quá trình chuyển dữ liệu từ bản đồ giấy sang các file dữ liệu dạng số được gọi là quá trình số hoá.Công nghệ GIS hiện đại có thể thực hiện tự động hoàn toàn quá trình này với công nghệ quét ảnh cho các đối tượng lớn; những đối tượng nhỏ hơn đòi hỏi một số quá trình số hoá thủ công (dùng bàn số hoá). Ngày nay, nhiều dạng dữ liệu địa lý thực sự có các định dạng tương thích GIS. Những dữ liệu này có thể thu được từ các nhà cung cấp dữ liệu và được nhập trực tiếp vào GIS.Nhiệm vụ gis thứ hai – Thao tác dữ liệuCó những trường hợp các dạng dữ liệu đòi hỏi được chuyển dạng và thao tác theo một số cách để có thể tương thích với một hệ thống nhất định. Ví dụ, các thông tin địa lý có giá trị biểu diễn khác nhau tại các tỷ lệ khác nhau (hệ thống đường phố được chi tiết hoá trong file về giao thông, kém chi tiết hơn trong file điều tra dân số và có mã bưu điện trong mức vùng). Trước khi các thông tin này được kết hợp với nhau, chúng phải được chuyển về cùng một tỷ lệ (mức chính xác hoặc mức chi tiết). Ðây có thể chỉ là sự chuyển dạng tạm thời cho mục đích hiển thị hoặc cố định cho yêu cầu phân tích. Công nghệ GIS cung cấp nhiều công cụ cho các thao tác trên dữ liệu không gian và cho loại bỏ dữ liệu không cần thiết.Nhiệm vụ gis thứ 3 – quản lý dữ liệuÐối với những dự án GIS nhỏ, có thể lưu các thông tin địa lý dưới dạng các file đơn giản. Tuy nhiên, khi kích cỡ dữ liệu trở nên lớn hơn và số lượng người dùng cũng nhiều lên, thì cách tốt nhất là sử dụng hệ quản trị cơ sở dữ liệu (DBMS) để giúp cho việc lưu giữ, tổ chức và quản lý thông tin. Một DBMS chỉ đơn giản là một phần mền quản lý cơ sở dữ liệu. Có nhiều cấu trúc DBMS khác nhau, nhưng trong GIS cấu trúc quan hệ tỏ ra hữu hiệu nhất. Trong cấu trúc quan hệ, dữ liệu được lưu trữ ở dạng các bảng. Các trường thuộc tính chung trong các bảng khác nhau được dùng để liên kết các bảng này với nhau. Do linh hoạt nên cấu trúc đơn giản này được sử dụng và triển khai khá rộng rãi trong các ứng dụng cả trong và ngoài GIS.Nhiệm vụ gis thứ 4 – Hỏi đáp và phân tíchMột khi đã có một hệ GIS lưu giữ các thông tin địa lý, có thể bắt đầu hỏi các câu hỏi đơn giản như:+ Ai là chủ mảnh đất ở góc phố?+ Hai vị trí cách nhau bao xa?+ Vùng đất dành cho hoạt động công nghiệp ở đâu? Và các câu hỏi phân tích như:+ Tất cả các vị trí thích hợp cho xây dựng các toà nhà mới nằm ở đâu? + Kiểu đất ưu thế cho rừng sồi là gì?+ Nếu xây dựng một đường quốc lộ mới ở đây, giao thông sẽ chịu ảnh hưởng như thế nào?GIS cung cấp cả khả năng hỏi đáp đơn giản “chỉ và nhấn” và các công cụ phân tích tinh vi để cung cấp kịp thời thông tin cho những người quản lý và phân tích. Các hệ GIS hiện đại có nhiều công cụ phân tích hiệu quả, trong đó có hai công cụ quan trọng đặc biệt: phân tích liền kề và phân tích chồng xếpNhiệm vụ gis thứ năm – Hiển thịVới nhiều thao tác trên dữ liệu địa lý, kết quả cuối cùng được hiển thị tốt nhất dưới dạng bản đồ hoặc biểu đồ. Bản đồ khá hiệu quả trong lưu giữ và trao đổi thông tin địa lý. GIS cung cấp nhiều công cụ mới và thú vị để mở rộng tính nghệ thuật và khoa học của ngành bản đồ. Bản đồ hiển thị có thể được kết hợp với các bản báo cáo, hình ảnh ba chiều, ảnh chụp và những dữ liệu khác (đa phương tiện).Nguồn: https://khoaluantotnghiep.com/gis-la-gi/
  14. Trước khi bàn đến các giai đoạn phát triển của Marketing, chúng ta sẽ nhắc lại một chút về sự ra đời và hình thành của Marketing: “Marketing ra đời nhằm giải quyết những mâu thuẫn giữa người bán với người mua và người bán với người bán. Marketing là một thuật ngữ tiếng Anh được sử dụng đầu tiên vào năm 1902 trên giảng đường đại học tổng hơp Michigan ở Mỹ. Tuy các hoạt động Marketing có từ rất lâu nhưng sự ra đời của marketing chỉ hình thành từ những năm đầu thế kỷ 20”.Các bài có thể xem thêm:+ micro marketing là gì+ promotion trong marketing1. Giai đoạn hướng theo sản xuất (Production Orientation)Trước năm 1930, các công ty chỉ tập trung vào việc sản xuất. Các nhà điều hành sản xuất và các kỹ sư là người có ảnh hưởng quyết định đến kế hoạch của công ty.Giai đoạn này phù hợp với 02 tình huống: Chi phí sản xuất quá cao và việc tăng năng suất là cấn thiết để kéo chi phí xuống. Nhu cầu thị trường lớn hơn khả năng cung ứng Chức năng của bộ phận bán hàng đơn giản là giải quyết đầu ra của công ty với giá được xác định bởi bộ phận sản xuất và tài chính.Các nhà buôn sỉ và buôn lẻ trong giai đoạn này nhấn mạnh vào các hoạt động bên trong, tập trung vào hiệu quả và kiểm soát chi phí.2. Giai đoạn hướng theo sản phẩm (Product Orientation) Do người tiêu dùng có nhu cầu sản phẩm chất lượng cao nhất so với số tiền họ chi trả ra nên các nhà sản xuất tập trung tạo ra nhiều sản phẩm có chất lượng cao, tinh xảo và không ngừng cải tiến chúng để thu hút khách hàng.Giả thuyết của nhà sản xuất rằng khách hàng muốn sản phẩm như vậy nên họ sản xuất ra chúng. Trong đó những mong muốn của khách hàng thường khác hơn những sản phẩm cung cấp nên khâu tiêu thụ vẫn khó khăn3. Giai đoạn hướng theo bán hàng (Sales Orientation) Giai đoạn khủng hoảng kinh tế thế giới làm thay đổi nhận thức của các doanh nghiệp (không còn chú trọng tăng cường sản xuất mà là phải chú trọng đến việc bán sản phẩm làm ra). Việc đưa ra sản phẩm tốt vẫn chưa đảm bảo sự thành công trên thị trường.Trong giai đoạn này, các hoạt động khuyến khích khách hàng mua được sử dụng rầm rộ để bán những sản phẩm mà công ty đã sản xuất. Những hoạt động bán hàng và những nhà quản trị bán hàng bắt đầu được coi trọng và có nhiều trách nhiệm hơn trong công ty.Chính trong giai đoạn này, những cách bán hàng quá tích cực như: thúc ép, vận động khách hàng mua sản phẩm có sẵn và những cách bán hàng phi đạo đức được thực hiện. Kết quả là các hoạt động bán hàng phải gánh chịu những tiếng xấu.Nguồn : https://luanvantaichinh.com/cac-giai-doan-phat-trien-cua-marketing/
  15. Khái niệmTheo Maidique và Patch, chiến lược công nghệ bao gồm những lựa chọn và kế hoạch mà công ty sử dụng để ứng phó với những đe doạ và cơ hội từ môi trường hoạt động của nó. Các bài viết có thể xem thêm: + các nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển và phân bố công nghiệp + cách xác định kết quả kinh doanh Burgelman và Rosenblo cho rằng chiến lược công nghệ bao gồm những quyết định của công ty về lựa chọn công nghệ, về năng lực công nghệ, về cung cấp vốn cho phát triển công nghệ. Mặc dù có sự khác nhau, hai định nghĩa trên đều ám chỉ rằng: – Chiến lược công nghệ là kế hoạch dài hạn, nó hướng dẫn doanh nghiệp phân bổ các nguồn lực cho công nghệ và sử dụng công nghệ. – Chiến lược công nghệ bao trùm nhiều lĩnh vực liên quan đến công nghệ. * Các lĩnh vực của chiến lược công nghệ. – Triển khai công nghệ vào chiến lược sản phẩm – thị trường của doanh nghiệp để giúp doanh nghiệp đạt được lợi thế cạnh tranh dựa trên công nghệ. – Sử dụng công nghệ rộng rãi hơn trong các hoạt động khác nhau thuộc chuỗi giá trị (Value chain) của doanh nghiệp. – Phân bổ nguồn lực cho các lĩnh vực khác nhau của công nghệ. – Thiết kế các cơ cấu tổ chức cho bộ phận chịu trách nhiệm về công nghệ và áp dụng các kỹ thuật quản trị để quản trị công nghệ. Nguồn từ: https://baocaototnghiep.net/chien-luoc-phat-trien-cong-nghe/