tungluanvan

Thành Viên Phố
  • Số bài viết

    26
  • Tham gia

  • Lần cuối online

  • Xác Thực

    N/A
Nhạc yêu thích của tôi

Điểm ưu tú

0 Neutral

About tungluanvan

  • Rank

Thông tin liên lạc

  • website
    https://luanvan1080.com/

Thông tin cá nhân

  • Họ và tên
    Tùng luận văn
  • Điện thoại
    01699020264
  • Địa chỉ
    129 phan văn trường cầu giấy hà nội
  • Thành Phố
    Hà Nội
  • Giới Tính
  1. 1. Nhân tố bên trong Nhân tố thuộc về khách hàng Nhu cầu của khách hàng: Một ngân hàng có thể có nhiều loại khách hàng khác nhau bao gồm khách hàng cá nhân, khách hàng tổ chức. Việc hiểu được khách hàng muốn gì và làm thế nào để phát triển DVBL nhằm thỏa mãn nhu cầu của khách hàng là mục tiêu chiến lược của bất kỳ ngân hàng nào. Do vậy, các quyết định liên quan đến phát triển dịch vụ đều phải dựa trên nhu cầu của khách hàng và xu hướng của khách hàng. Tham khảo thêm các bài viết sau: + Quy trình cho vay khách hàng cá nhân + Quản trị marketing quốc tế là gì Trình độ của KH: DVBL là DV phát triển trên nền tảng công nghệ hiện đại nên đòi hỏi trình độ dân trí cao. Nhân tố thuộc về Ngân hàng Đạo đức và uy tín trong kinh doanh : NH có thương hiệu càng lớn mạnh và có uy tín thì KH càng an tâm khi đến giao dịch tại NH đó Các gói sản phẩm phải đa dạng: NH phải có những gói sản phẩm nhằm đáp ứng hầu hết yêu cầu của KH, đây cũng là một hình thức bán chéo SP nhằm tăng doanh thu cho NH Giá cả và phí DV: Khi khách hàng đến giao dịch với ngân hàng đặc biệt là KHCN thì đều đầu tiên KH quan tâm chính là giá cả, tâm lý KH luôn muốn gửi với lãi suất cao, vay lãi suất thấp và đặc biệt là phí dịch vụ. Vì vậy NH phải có chính sách giá cả hợp lý và có thể cạnh tranh với các NH đối thủ. Chất lượng sản phẩm dịch vụ: Nếu giá cả của các NH như nhau thì điều kế tiếp KH quan tâm chính là chất lượng sản phẩm và dịch vụ. Nếu NH đem đến cho KH những sản phẩm dịch vụ có chất lượng thỏa mãn nhu cầu của họ thì NH đó bước đầu làm cho KH hài lòng. Chất lượng dịch vụ là điều kiện quyết định sự sống còn của bất kỳ một loại hình dịch vụ nào trên thị trường. Trong ngành tài chính ngân hàng với đặc điểm dịch vụ hướng tới khách hàng, cần luôn thay đổi theo hướng tăng tiện ích và nâng cao chất lượng phục vụ. Chính sách khách hàng: Mọi ngân hàng phải xác định được nhóm đối tượng khách hàng mà ngân hàng mình hướng tới để có thể đưa ra được chiến lược marketing thích hợp thu hút bộ phận khách hàng đó và có những chính sách chăm sóc hợp lý, mục đích cuối cùng là để cung cấp dịch vụ nhằm thỏa mãn tối đa nhu cầu ngày càng cao của khách hàng, từ đó đạt được mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận của ngân hàng. Chính sách Marketing: Để phát triển dịch vụ NHBL ngoài nâng cao chất lượng dịch vụ thì chính sách Marketing là một trong những khâu then chốt quyết định chiến lược cũng như định hướng phát triển của dịch vụ này. Hệ thống kênh phân phối: Mạng lưới kênh phân phối rộng, phân bố ở những địa bàn hợp lý càng tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình giao dịch đồng thời góp phần giảm được chi phí cung ứng dịch vụ cho khách hàng. Cơ sở vật chất, trang thiết bị, hạ tầng công nghệ thông tin: Cơ sở vật chất, trang thiết bị phải hiện đại, bắt mắt tạo cảm giác thoải mái cho KH khi đến giao dịch. Công nghệ hiện đại cho phép các NHTM tạo ra khả năng phát triển sản phẩm mới có tính chất riêng biệt, độc đáo gắn với khả năng sáng tạo và tạo ra thương hiệu, uy tín của sản phẩm rất cao. Ngoài ra, công nghệ hiện đại tạo điều kiện cho các NHTM nâng cao hiệu quả hoạt động, hiệu quả kinh doanh nhờ tăng trưởng nguồn thu dịch vụ, tiết kiệm chi phí và hơn hết là giảm thiểu rủi ro nhờ đa dạng hóa hoạt động kinh doanh. Quy trình, thủ tục và tốc độ thực hiện dịch vụ: hầu hết KH đều muốn giao dịch một cách nhanh chóng, với thủ tục đơn giản, dễ hiểu. Vì vậy NH phải đơn giản hóa các thủ tục giấy tờ để có thể phục vụ KH một cách nhanh nhất. Phong cách giao dịch và mối quan hệ với nhân viên: đây cũng là một nhân tố quan trọng, vì khi nhân viên giao dịch tốt, niềm nở và tạo mối quan hệ thân thiết với KH thìn sẽ tạo sự an tâm, tin tưởng với NH hơn. 2.Các nhân tố bên ngoài – Môi trường kinh tế : Tăng trưởng và phát triển kinh tế cũng ảnh hưởng rất lớn đến phát triển dịch vụ bán lẻ. Khi nền kinh tế có mức độ tăng trưởng cao thì nhu cầu sử dụng sản phẩm DVNH càng nhiều hơn, không chỉ giới hạn ở nhóm khách hàng doanh nghiệp nhằm đáp ứng cho nhu cầu sản xuất kinh doanh, mà cơ cấu sản phẩm dịch vụ ngày càng mở rộng đối với nhóm DVBL hướng tới đối tượng khách hàng cá nhân. – Môi trường pháp lý : Luật pháp là nền tảng cho hoạt động ngân hàng nói chung và hoạt động bán lẻ nói riêng được thực hiện một cách an toàn và bền vững. Vì vậy, luật pháp phải bám chặt với thực tiễn, tạo điều kiện cho việc phát triển các sản phẩm dịch vụ mới nhằm đáp ứng được yêu cầu của khách hàng mà vẫn đảm bảo tính an toàn cho cả khách hàng và ngân hàng. – Môi trường văn hóa xã hội: Môi trường xã hội mà đặc trưng gồm các yếu tố như: Tình hình kinh tế xã hội, thói quen, tâm lý, trình độ học vấn, bản sắc dân tộc hoặc các yếu tố như nơi ở, nơi làm việc… cũng ảnh hưởng lớn đến thói quen của người dân. Thông thường nơi nào tập trung nhiều người có địa vị trong xã hội, trình độ, thu nhập cao thì chắc chắn nhu cầu sử dụng DVNH càng nhiều. Nguồn : https://luanvantaichinh.com/nhan-to-anh-huong-toi-su-phat-trien-dich-vu-ngan-hang-ban-le/
  2. 1. Khái niệm tiêm là gì Tiêm là một trong các biện pháp đưa thuốc, chất dinh dưỡng vào cơ thể nhằm mục dích chẩn đoán, điều trị và phòng bệnh. Trong điều trị, tiêm có vai trò rất quan trọng, đặc biệt trong trường hợp người bệnh cấp cứu, người bệnh nặng. Trong lĩnh vực phòng bệnh, tiêm chủng đã tác động vào việc giảm tỷ lệ mắc và tỷ lệ tử vong đối với 6 bệnh truyền nhiễm có thể phòng bằng vắc xin ở trẻ em. 2. Khái niệm tiêm an toàn là gì Theo WHO, TAT tiêm an toàn là một quy trình tiêm: – Không gây nguy hại cho người nhận mũi tiêm; – Không gây phơi nhiễm cho người thực hiện mũi tiêm; – Không tạo chất thải nguy hại cho người khác và cộng đồng Tham khảo thêm các bài viết sau: + quản lý giáo dục là gì+ khái niệm quản lý nhà trường 3. Các giải pháp tăng cường thực hành tiêm an toàn Có 6 giải pháp tăng cường thực hành tiêm an toàn: – Giải pháp 1: Giảm hoặc loại bỏ các mũi tiêm không cần thiết – Giải pháp 2: Bảo đảm đầy đủ các phương tiện, thuốc cho kỹ thuật tiêm – Giải pháp 3: Tiêm phòng vắc xin cho NVYT và thiết lập, thực hiện hệ thống báo cáo các trường hợp phơi nhiễm nghề nghiệp – Giải pháp 4:Tăng cường kiến thức về TAT và KSNK – Giải pháp 5:Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát – Giải pháp 6:Thực hành đúng QTKT tiêm 4. Một số hướng dẫn trong thực hành tiêm an toàn a. Sát khuẩn da và chuẩn bị vùng da tiêm Rửa sạch da vùng tiêm nếu bẩn. Để sát khuẩn vùng da tiêm áp dụng các bước dưới đây: 1) Sử dụng bông hoặc gạc thấm dung dịch chứa cồn isopropyl hay ethanol 70%. KHÔNG dùng cồn methanol hoặc cồn metylic vì không an toàn cho người. Không dùng bông cồn chứa trong lọ hoặc hộp lưu c u. Có thể sử dụng một trong những cách thức sau: + Sử dụng kẹp không mấu vô khuẩn để gắp bông gạc tẩm cồn: khi sát khuẩn không được chạm kẹp vào da người bệnh. + Dùng tay (sau khi đã vệ sinh tay) để cầm bông cồn sát khuẩn. Khi sát khuẩn không được chạm tay vào phần bông tiếp xúc với da vùng tiêm. + Sử dụng tăm bông: khi sát khuẩn không chạm tay vào bông 2) Sát khuẩn da vùng tiêm theo hình xoáy ốc từ trong ra ngoài với đường kính khoảng 10 cm cho đến khi sạch. 3) Thời gian sát khuẩn trong 30 giây để da tự khô hoàn toàn rồi mới tiêm 4) Không chạm tay hoặc vật dụng không vô khuẩn vào vùng da đã được sát khuẩn b. Lấy thuốc vào bơm tiêm: 1) Nguyên tắc: – Thực hiện 4 không: KHÔNG sử dụng một bơm kim tiêm đã lấy thuốc để dùng cho nhiều người bệnh (bảo đảm một kim tiêm một bơm tiêm một người bệnh); KHÔNG tái sử dụng bơm kim tiêm; KHÔNG sử dụng một bơm kim tiêm pha thuốc duy nhất để pha cho nhiều lọ thuốc; KHÔNG kết hợp thuốc còn thừa lại để dùng sau. – Lấy thuốc tiêm từ lọ thuốc: Nên sử dụng Lọ thuốc đơn liều cho từng người bệnh cho mỗi mũi tiêm để giảm nguy cơ lây nhiễm chéo gi a các người bệnh. Có thể sử dụng Lọ thuốc đa liều nếu không còn sự lựa chọn nào khác nhưng chỉ mở một lọ thuốc đa liều cụ thể tại một thời điểm tại mỗi khu vực chăm sóc người bệnh. Nếu có thể gi một lọ thuốc đa liều cho mỗi người bệnh và sau khi đã ghi tên người bệnh ở bên ngoài cất lọ lưu gi lọ thuốc đó ở phòng điều trị hoặc phòng thuốc riêng biệt. KHÔNG để các lọ thuốc đa liều ở ngoài môi trường tránh bị nhiễm bẩn Loại bỏ lọ thuốc đa liều nếu nghi ngờ thuốc không còn vô khuẩn; không còn bảo đảm chất lượng; hoặc hết thời hạn sử dụng; hoặc không được cất gi đúng cách sau khi mở. Loại bỏ thuốc sau thời gian khuyến cáo của nhà sản xuất. – Lấy thuốc tiêm từ ống thuốc: nên chọn mua hoặc sử dụng loại ống thuốc có đầu mở (Pop-open) bất cứ khi nào có thể. 2) Phương pháp lấy thuốc qua nắp lọ cao su: – Sát khuẩn nắp lọ bằng một miếng bông gạc tẩm cồn 70% (cồn isopropyl hoặc ethanol) và để cồn tự khô trước khi đưa kim lấy thuốc vào trong lọ thuốc. – Nếu là lọ thuốc đa liều: dùng một bơm kim tiêm lấy thuốc vô khuẩn cho mỗi lần lấy thuốc và không để lưu kim lấy thuốc trong lọ. – Khi đã lấy thuốc vào bơm kim tiêm cần tiêm cho người bệnh càng sớm càng tốt. – Ghi và dán nhãn lọ thuốc đa liều sau khi pha xong với các nội dung: ngày và thời gian chuẩn bị; loại và thể tích dung dịch pha (nếu có); nồng độ cuối cùng; ngày và thời gian hết hạn sau khi pha; tên và ch ký người pha thuốc. Đối với thuốc đa liều KHÔNG cần pha bổ sung thêm một nhãn với nội dung: ngày và thời gian lần đầu tiên lấy thuốc; tên và ch ký người lấy thuốc đầu tiên. Nguồn : https://nhanvietluanvan.com/tiem-an-toan-la-gi/
  3. Marketing dịch vụ là sự thích nghi lý thuyết hệ thống vào thị trường dịch vụ, bao gồm quá trình thu nhận, tìm hiểu, đánh giá và thỏa mãn nhu cầu của thị trường phát triển bằng hệ thống các chính sách, các biện pháp tác động vào toàn bộ quá trình tổ chức sản xuất, cung ứng và tiêu dùng dịch vụ thông qua phân bố các nguồn lực của tổ chức. Marketing được duy trì trong sự năng động qua lại giữa sản phẩm dịch vụ và nhu cầu của người tiêu dùng và những hoạt động của đối thủ cạnh tranh trên nền tảng cân bằng lợi Ých giữa doanh nghiệp, người tiêu dùng và xã hội. Khái niệm đã đề cập đến một số vấn đề cơ bản của marketing dịch vụ – Nghiên cứu nhu cầu, đặc điểm nhu cầu của thị trường mục tiêu và những yếu tố chi phối thị trường mục tiêu. – Thỏa mãn nhu cầu có hiệu quả hơn các đối thủ cạnh tranh trên cơ sở khai thác và huy động tất cả các nguồn lực của tổ chức. – Thực hiện cân bằng động các mối quan hệ sản phẩm dịch vụ (loại hình, số lượng, chất lượng) với sự thay đổi nhu cầu của khách hàng. – Cân bằng ba lợi ích: lợi ích của doanh nghiệp, của người tiêu dùng và của xã hội trong sự phát triển bền vững. Có thể tham khảo thêm các bài viết sau: + lợi thế cạnh tranh + phương pháp thu thập dữ liệu + bảo lãnh ngân hàng là gì
  4. 1. Định nghĩa sản phẩm du lịch là gì Sản phẩm du lịch là các dịch vụ hàng hóa cung cấp cho người du lịch, được tạo nên bởi sự kết hợp của việc khai thác các yếu tố tự nhiên xã hội với việc sử dụng các nguồn lực: cơ sở vật chất kỹ thuật và lao động tại một cơ sở, một vùng hay một quốc gia nào đó. Tham khảo thêm các bài viết sau: + vai trò nguồn nhân lực + lợi thế cạnh tranh 2. Thành phần cơ bản của sản phẩm du lich A, Dịch vụ vận chuyển: Là một phần cơ bản của sản phẩm du lịch. Bao gồm các phương tiện đưa đón khách đến và thăm quan các địa điểm du lịch bằng các phương tiện giao thông hiện nay như : ô tô , xe máy, xe đạp, máy bay, tàu hỏa, thuyền….. B, Dịch vụ lưu trú và ăn uống: Đây là thành phần chính cấu thành sản phẩm du lịch. Nó bao gồm các dịch vụ nhắm đáp ứng các nhu cầu của người du lich như : Khách sạn, lều trại, nhà hàng … Dịch vụ tham quan giải trí: Điểm tham quan, công viên, di tích hội chợ, cảnh quan… Hàng hóa tiêu dùng và các đồ lưu niệm Các dịch vụ khác hỗ trợ khách du lịch: thủ tuc hộ chiếu, visa….. 3. Đặc trưng của sản phẩm du lich – Đặc trưng sản phẩm du lịch đầu tiên là tính vô hình: + Sản phẩm du lịch không cụ thể, không tồn tại dưới dạng vật chất, do đó không thể sờ, không thể thử và không thể thấy sản phẩm kiểm tra chất lượng khi mua. + Không nhận thức một cách tường minh + Do tính vô hình nên khách du lịch đánh giá chât lượng sản phẩm thông qua địa điểm, người phục vụ, trang thiêt bị, thông tin, thương hiệu,…. Trước khi họ cần được cung cấp thông tin đầy đủ, tin cậy, cũng như tư vẫn một cách chuyên nghiệp. + Sản phẩm du lịch thường là một kinh nghiệm nên rất dễ dàng bị sao chép, bắt chước và việc làm khác biệt hóa sản phẩm manh tính cạnh tranh khó khăn hơn kinh doanh hàng hoá. – Đặc trưng thứ hai của sản phẩm du lịch là tính không tách rời: + Quá trình sản xuất phục vụ và quá trình tiêu dùng sản phẩm du lịch diễn ra gần như đồng thời trong cùng một thời gian và không gian. Cung thời gian : thời gian hoạt động của máy bay, tàu , khách sạn, nhà hàng phụ thuộc vào thời gian tiêu dùng của khách, hoạt động phục vụ khách diễn ra một cách liên tục không có ngày nghỉ và giờ nghỉ. Cùng không gian: khách du lịch phải đến tận nơi để tiêu dùng sản phẩm chứ không thể vận chuyển sản phẩm đến nơi có khách như sản phẩm hàng hóa bình thường. Như vậy sản phẩm du lịch không thể tách rời nguồn gốc tạo ra dịch vụ. + Không chuyển giao sở hữu, chuyển giao sử dụng: Sản phẩm du lịch chỉ thực hiện quyền sử dụng mà không thực hiện quyền sở hữu, bởi khi đã sử dụng thì mất đi giá trị chi trở thành các trải nghiệm của bản thân(yếu tố phi vật chất), không thể sang tên, đổi chủ được. – Tiếp đến đặc trưng sản phẩm du lịch là tính không đồng nhất: + Tính vô hình của sản phẩm du lịch khiến cho các sản phẩm du lịch thường có chất lượng không lặp lại. + Chỉ khi tiêu dùng sản phẩm, khách mời mới cảm nhận được. + Khó lượng hóa Nguồn : https://khoaluantotnghiep.com/san-pham-du-lich-la-gi/
  5. 1. Tìm hiểu về Windows Explorer là gì FIle Explorer, trước đây là Windows Explorer, là một ứng dụng quản lý tập tin đi kèm trong tất cả các phiên bản hệ điều hành Windows từ Windows 95 về sau. Nó cung cấp cho người dùng một giao diện trực quan (giao diện người dùng đồ họa) để truy cập vào các tập tin hệ thống. Nó cũng là một trong những thành phần hệ thống có nhiều biểu tượng trên desktop nhất, như là thanh tác vụ và màn hình nền. Người dùng vẫn có thể điều khiển máy tính mà không cần sử dụng tới Windows Explorer (ví dụ lệnh File | Run trong Task Manager trên các phiên bản Windows dựa trên Windows NT sẽ hoạt động mà không cần nó, cũng như các lệnh gõ vào command prompt), tuy nhiên File Explorer vẫn là phương pháp đơn giản, hiệu quả và được số đông người dùng tin cậy. Tham khảo thêm các bài viết sau: + chiến lược marketing + vai trò của giáo dục đại học 2. Cách khởi động Windows Explorer Có thể được khởi động bằng nhiều cách: Cách 1: Nhắp nút Start, trỏ vào Programs và nhắp chọn Windows Explorer. Cách 2: Trên nền Desktop, nhắp nút phải vào biểu tượng My computer để mở ra menu Object và chọn lệnh Explorer Cửa sổ Windows Explorer a). Cửa sổ Windows Explorer được chia thành 2 vùng tạm gọi là vùng bên trái và vùng bên phải của cửa sổ. Ranh giới giữa hai vùng được gọi là đường cắt (Split) – Kéo mouse ở đường này để thay đổi độ rộng giữa 2 vùng. Vùng bên trái – All Folders – cho thấy cấu trúc thư mục của ổ đĩa cứng cùng với các tài nguyên có trong máy PC của bạn (My computer) bao gồm ổ đĩa mềm, ổ đĩa CD, các Folder hệ thống, mạng, print, Control panel, Recycle Bin Vùng bên phải – Contents of (C:) – được thể hiện như một cửa sổ Folder thông thường và nó cũng có những chức năng tương tự như cửa sổ Folder b). Thể hiện cửa sổ Windows Explorer Cửa sổ Windows có thể thay đổi cách thể hiện cho vùng bên phải bằng cách nhắp các biẻu tượng tương ứng trên Toolbar hoặc nhắp Menu View chọn các lệnh: Small Icons Large Icons List Details 3. Các thao tác với File/Folder trong windows explorer: a) Đánh dấu chọn Folder và File Chọn một Folder hoặc một tập tin – Nhắp chuột vào biểu tưọng hoặc tên của biểu tượng – Gõ gõ ký tự đầu tiên – Dùng mũi tên để di chuyển thanh sáng Chọn một nhóm – Chọn rời rạc: Giữ phím Ctrl – nhắp chọn từng biểu tượng – Chọn liên tiếp: nhắp biểu tượng đầu , giữ Shift chọn biểu tượng cuối – Chọn tất cả: Nhắp Menu Edit chọn Select All hoặc nhấn tổ hợp phím Ctrl +A Chú ý: Dòng trạng thái sẽ hiện lên số chủ đề được chọn và tổng dung lượng của nó. Để bỏ chọn chỉ cần nhắp chuột vào một biểu tượng. Tạo Folder mới: Nhắp vào Folder cha ở vùng bên trái Chọn Menu File sau đó là New và chọn Folder, xoá tên New folder và gõ lại tên mới và nhấn Enter (hoặc nhắp nút phải trên vùng nội dung, cho Nguồn: https://vietluanvanthue.com/window-explorer-la-gi/
  6. Hoạt động cho vay đối với DNVVN cũng như các loại hình doanh nghiệp khác rất đa dạng với các tiêu chí phân loại khác nhau. Sau đây là một số phương thức cho vay cơ bản: – Căn cứ vào tính chất nghiệp vụ, cho vay được phân loại thành: + Cho vay thấu chi, là nghiệp vụ ngân hàng cho DN vay qua đó ngân hàng cho phép người vay được chi trội trên số dư tiền gửi thanh toán của mình đến một giới hạn nhất định. Hình thức vay trên đang dần được sử dụng phổ biến hơn với các DN có quan hệ tín dụng thường xuyên với ngân hàng. + Cho vay trực tiếp từng lần: là hình thức cho vay phổ biến nhất đối với các DN. Nguồn tín dụng ngân hàng chỉ tham gia vào một số giai đoạn nhất định của chu kỳ kinh doanh. Nghiệp vụ cho vay đơn giản và doanh nghiệp có thể kiểm soát từng lần vay. Tham khảo thêm các bài viết sau: + Quy trình cho vay tín dụng + Khái niệm cho vay + Cho vay theo hạn mức: là nghiệp vụ mà theo đó ngân hàng thỏa thuận cung cấp cho khách hàng hạn mức tín dụng có thể tính cho cả kỳ hoặc cuối kỳ. Đó là số dư tối đa tại thời điểm tính. Đây cũng là phương thức cho vay mà ngân hàng thường chỉ áp dụng với các khách hàng có mối quan hệ thường xuyên với ngân hàng. + Cho vay luân chuyển, là nghiệp vụ cho vay mà theo đó ngân hàng cho vay dựa trên luân chuyên của hàng hóa của doanh nghiệp. Hình thức cho vay như trên rất ít được sử dụng với các DN. + Cho vay trả góp: là hình thức cho vay theo đó ngân hàng cho phép khách hàng trả gốc làm nhiều lần trong thời hạn tín dụng đã thỏa thuận. Hình thức cho vay này khá hợp lý đối với các DN và thường được áp dụng kết hợp với các hình thức cho vay khác. + Cho vay giản tiếp: là hình thức cho vay thông qua các tổ chức trung gian, thường được áp dụng đối với thị trường có nhiều món vay nhỏ, người vay phân tán, cách xa ngân hàng. Hình thức vay này ít được các ngân hàng áp dụng với các DN. – Căn cứ vào thời hạn cho vay, ngân hàng phân loại cho vay thành cho vay ngắn hạn, cho vay trung và dài hạn. Trong đó, các DN chủ yếu sử dụng cho vay ngắn hạn cho các khoản vay dưới 12 tháng và chủ yếu được sử dụng để tài trợ cho tài sản lưu động hoặc nhu cầu sử dụng vốn ngắn hạn. Nguồn : https://vietluanvanthue.com/phan-loai-cho-vay-doi-voi-doanh-nghiep/
  7. 1/ Khái niệm cơ chế quản lý Ngân Sách Nhà Nước cho giáo dục và đào tạo Quản lý là yêu cầu tất yếu để đảm bảo sự hoạt động bình thường của mọi quá trình và hệ thống kinh tế – xã hội. Thực chất của quản lý là thiết lập và thực hiện hệ thống các phương pháp và biện pháp khác nhau, tác động một cách có ý thức tới đối tượng của quản lý nhằm đạt được kết quả nhất định. Tham khảo thêm các bài viết sau: + bất bình đẳng thu nhập + luận văn nâng cao chất lượng nguồn nhân lực Quản lý Ngân Sách Nhà Nước được hiểu là việc sử dụng Ngân Sách Nhà Nước làm công cụ quản lý hệ thống xã hội thông qua việc sử dụng những chức năng vốn có của nó. Quản lý Ngân Sách Nhà Nước là việc làm cần thiết gắn với việc chi Ngân Sách Nhà Nước nhằm tạo ra những khoản chi đảm bảo đúng mục đích sử dụng và đạt hiệu quả cao. Cơ chế quản lý Ngân Sách Nhà Nước là hệ thống các nguyên tắc, các hình thức và phương pháp quản lý điều hành Ngân Sách Nhà Nước trong từng giai đoạn phát triển kinh tế. Cơ chế quản lý Ngân Sách Nhà Nước bao gồm các cơ chế thu, chi ngân sách, cân đối ngân sách, cấp phát ngân sách. Yêu cầu của cơ chế quản lý Ngân Sách Nhà Nước trong nền kinh tế thị trường là ưu tiên sử dụng Ngân Sách Nhà Nước để thực hiện những nhiệm vụ của Nhà nước, những công việc mà thị trường không thể thực hiện hoặc không thể giao cho thị trường thực hiện. Bên cạnh đó, sử dụng ngân sách nhà nước phải tránh tư tưởng bao cấp, bao biện, làm thay cho thị trường. Trái lại, Ngân Sách Nhà Nước phải tạo ra môi trường để thu hút, khuyến khích sự tham gia của các nguồn tài chính khác trong thị trường bổ sung cho nguồn lực Ngân Sách Nhà Nước. 2/ Nội dung cơ chế quản lý Ngân Sách Nhà Nước cho giáo dục đào tạo a/ Cơ chế phân cấp ngân sách Trong cơ chế quản lý Ngân Sách Nhà Nước, cơ chế phân cấp ngân sách có vị trí rất quan trọng, thể hiện mối quan hệ phân cấp, phân quyền, phối hợp hoạt động giữa các cấp chính quyền trong việc quản lý, điều hành ngân sách. Yêu cầu đối với cơ chế phân cấp ngân sách là Ngân sách Trung ương phải giữ vai trò chủ đạo tập trung các nguồn thu có tính chất quốc gia và giải quyết các nhu cầu chi tiêu có tính chất trọng điểm trên phạm vi cả nước. Ngân sách địa phương phải được phân cấp một số nguồn thu và nhiệm vụ chi nhất định để đảm bảo thực hiện chức năng quản lý Nhà nước của chính quyền địa phương trên địa bàn. Mối quan hệ giữa ngân sách TW và ngân sách địa phương phải được giải quyết hài hòa thông qua cơ chế điều tiết và trợ cấp ngân sách giữa TW và địa phương. Việc địa phương quản lý ngân sách có thể giúp huy động và phân bổ nguồn lực hiệu quả hơn và làm cho cung cấp dịch vụ phù hợp hơn, đáp ứng tốt hơn nhu cầu và mong muốn của người dân địa phương với hiệu quả cao hơn phù hợp với điều kiện và tình hình cụ thể tại địa phương. Tuy nhiên, nếu phân cấp không tốt sẽ dẫn đến những rủi ro như sự chồng chéo, làm suy yếu sự điều phối TW và địa phương, tăng bất bình đẳng và làm xuống cấp dịch vụ trong một số ngành quan trọng. Việt Nam có bốn cấp chính quyền. Ở cấp TW, quyền lập pháp thuộc về Quốc hội, cơ quan mà theo điều 84 của Hiến pháp có trách nhiệm quyết định Ngân Sách Nhà Nước. Ngân Sách Nhà Nước gồm không chỉ ngân sách của chính quyền TW mà còn có cả ngân sách tổng hợp của các cấp tỉnh – huyện – xã. Cơ cấu của ngân sách mang tính thứ bậc: Ngân sách mỗi cấp không chỉ được HĐND cấp đó quyết định mà còn phải được chính quyền cấp trên phê chuẩn. Chính quyền ở mọi cấp hoạt động theo một hệ thống song trùng lãnh đạo và chịu trách nhiệm giải trình. Từng cấp ngân sách phải chịu trách nhiệm lập dự toán ngân sách hàng năm (bao gồm các khoản thu, chi trên phạm vi địa bàn), chịu trách nhiệm hướng dẫn, giám sát việc thực hiện ngân sách cấp dưới. Cấp huyện tổng hợp dự toán ngân sách xã, báo cáo lên tỉnh. Tỉnh tổng hợp dự toán ngân sách các huyện báo cáo lên Bộ Tài chính. Dự toán ngân sách cấp xã do Ban tài chính xã lập. Dự toán ngân sách cấp huyện do Phòng tài chính huyện lập và dự toán ngân sách cấp tỉnh do Sở tài chính tỉnh lập. Mục đích của phân cấp quản lý ngân sách giữa các cấp chính quyền là nhằm giảm bớt sự ỷ lại của cơ quan cấp dưới, đồng thời xóa bớt sự bao biện, làm thay của chính quyền cấp trên. Nhờ đó mà sự phân định trách nhiệm, quyền hạn trong quản lý Ngân Sách Nhà Nước một cách rõ ràng hơn và tạo ra các điều kiện cần thiết cho việc nâng cao hiệu quả quản lý ở lĩnh vực này. Nguồn : https://luanvan1080.com/co-che-quan-ly-ngan-sach-nha-nuoc-cho-giao-duc-dao-tao.html
  8. 1/ Khái niệm lạm phát là gì? Trong kinh tế học, lạm phát là sự tăng lên theo thời gian của mức giá chung của nền kinh tế. Trong một nền kinh tế, lạm phát là sự mất giá trị thị trường hay giảm sức mua của đồng tiền. Khi so sánh với các nền kinh tế khác thì lạm phát là sự phá giá tiền tệ của một loại tiền tệ so với các loại tiền tệ khác. Thông thường theo nghĩa đầu tiên thì người ta hiểu là lạm phát của đơn vị tiền tệ trong phạm vi nền kinh tế của một quốc gia, còn theo nghĩa thứ hai thì người ta hiểu là lạm phát của một loại tiền tệ trong phạm vi thị trường toàn cầu. Tham khảo các bài viết sau: + hoạt động tín dụng + các hình thức cho vay của ngân hàng Phạm vi ảnh hưởng của hai thành phần này vẫn là một chủ đề gây tranh cãi giữa các nhà kinh tế học vĩ mô. Ngược lại với lạm phát là giảm phát. Một chỉ số lạm phát bằng 0 hay một chỉ số dương nhỏ thì được người ta gọi là sự “ổn định giá cả”. Khái niệm lạm phát là gì? Lạm phát là một phạm trù vốn có của nền kinh tế thị trường, nó xuất hiện khi các quy luật về hàng hoá không được tôn trọng, nhất là các quy luật lưu thông tiền tệ. Ở đâu còn sản xuất hàng hoá, còn tồn tại những quan hệ hàng hoá tiền tệ thì ở đó còn ẩn náu khả năng lạm phát và lạm phát chỉ xuất hiện khi các quy luật của lưu thông tiền tệ bị vi phạm. Trong bộ “ Tư bản” nổi tiếng của mình C.Mác viết: “ Việc phát hành tiền giấy phải được giới hạn ở số lượng vàng hoặc bạc thực sự lưu thông nhờ các đại diện tiền giấy của mình”. Điều này có nghĩa là khi khối lượng tiền giấy do nhà nước phát hành vào lưu thông vượt quá số lượng vàng mà nó đại diện thì giá trị tiền giấy giảm xuống và tình trạng lạm phát xuất hiện. Một định nghĩa nữa về lạm phát do các nhà kinh tế học hiện đại đưa ra và nó được sử dụng rộng rãi trong lĩnh vực nghiên cứu thị trường: “Lạm phát là sự tăng lên của mức giá trung bình theo thời gian”. Lạm phát được đặc trưng bởi chỉ số lạm phát. Nó chính là GNP danh nghĩa/ GNP thực tế. Trong thực tế nó được thay thế bằng tỷ số giá tiêu dùng hoặc chỉ số giá bán buôn Ip = ∑ ip.d Ip: chỉ số giá cả của từng nhóm hàng d: tỷ trọng mức tiêu dùng của từng loại hàng 2/ Phân loại lạm phát – Lạm phát vừa phải: còn gọi là lạm phát một con số, có tỷ lệ lạm phát dưới 10%/1 năm. Lạm phát vừa phải làm cho giá cả biến động tương đối. Trong thời kỳ này, nền kinh tế hoạt động bình thường, đời sống của lao động ổn định. Sự ổn định đó được biểu hiện: giá cả tăng lên chậm, lãi suất tiền gửi không cao, không xẩy ra với tình trạng mua bán và tích trữ hàng hoá với số lượng lớn…. Có thể nói lạm phát vừa phải tạo nên tâm lý an tâm cho người lao động chỉ trông chờ vào thu nhập. Trong thời gian này, các hãng kinh doanh có khoản thu nhập ổn định, ít rủi ro nên sẵn sàng đầu tư cho sản xuất, kinh doanh. – Lạm phát phi mã: lạm phát xảy ra khi giá cả tăng tương đối nhanh với cả tỷ lệ 2 hoặc 3 con số một năm ở mức phi mã. Lạm phát làm cho giá cả chung tăng lên nhanh chóng, gây biến động lớn về kinh tế, các hợp đồng được chỉ số hoá. Lúc này người dân tích trữ hàng hoá, vàng bạc, bất động sản và không bao giờ cho vay tiền ở mức lãi suất bình thường. Loại này khi đã trở nên vững chắc sẽ gây ra những biến dạng kinh tế nghiêm trọng. Nguồn : https://luanvan1080.com/khai-niem-lam-phat-la-gi.html
  9. 1/ Khái niệm về đầu tư xây dựng cơ bản Xây dựng cơ bản và đầu tư xây dựng cơ bản là những hoạt động với chức năng tạo ra tài sản cố định cho nền kinh tế thông qua các hình thức xây dựng mới, mở rộng, hiện đại hoá hoặc khôi phục các tài sản cố định. Đầu tư xây dựng cơ bản trong nền kinh tế quốc dân là một bộ phận của đầu tư phát triển. Đây chính là quá trình bỏ vốn để tiến hành các hoạt động xây dựng cơ bản nhằm tái sản xuất giản đơn và tái sản xuất mở rộng ra các tài sản cố định trong nền kinh tế. Do vậy đầu tư xây dựng cơ bản là tiền đề quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế – xã hội của nền kinh tế nói chung và của các cơ sở sản xuất kinh doanh nói riêng. Tham khảo thêm các bài viết sau: + phương thức tín dụng chứng từ + Hội thẩm xét xử Đầu tư xây dựng cơ bản là hoạt động chủ yếu tạo ra tài sản cố định đưa vào hoạt động trong lĩnh vực kinh tế – xã hội, nhằm thu được lợi ích với nhiều hình thức khác nhau. Đầu tư xây dựng cơ bản trong nền kinh tế quốc dân được thông qua nhiều hình thức xây dựng mới, cải tạo, mở rộng, hiện đại hoá hay khôi phục tài sản cố định cho nền kinh tế. Xây dựng cơ bản là hoạt động cụ thể tạo ra các tài sản cố định (khảo sát, thiết kế, xây dựng, lắp đặt máy móc thiết bị) kết quả của các hoạt động Xây dựng cơ bản là các tài sản cố định, với năng lực sản xuất phục vụ nhất định. 2/ Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả đầu tư xây dựng cơ bản a/ Điều kiện tự nhiên Xây dựng cơ bản thường được tiến hành ngoài trời , do đó nó chịu ảnh hưởng của điều kiện khí hậu. Ở mỗi vùng, mỗi lãnh thổ có điều kiện tự nhiên khác nhau, từ đó mà nó cho phép khai thác các kiến trúc phù hợp với điều kiện thực tế. b/ Khả năng huy động và sử dụng vốn đầu tư xây dựng cơ bản có hiệu quả Vốn là yếu tố vật chất quan trọng trong các yếu tố tác động đến tăng trưởng. Nguồn vốn đầu tư là một yếu tố đầu vào của sản xuất, muốn đạt được tốc độ tăng trưởng GDP theo dự kiến thì cần phải giải quyết mối quan hệ cung cầu về vốn và các yếu tố khác. Trong nền kinh tế thị trường. vốn là một hàng hoá “đặc biệt “, mà đã là hàng hoá thì tất yếu phải vận động theo một quy luật chung là lượng cầu vốn thường lớn hơn lượng cung về vốn. Do đó, muốn khai thác tốt nhất các nhân tố cung về vốn để thỏa mãn nhu cầu về vốn trong nền kinh tế. Huy động được nhưng cần xây dựng các phương án sử dụng vốn đúng mục đích và có kế hoạch, tránh thất thoát lãng phí. Nguồn : https://luanvan1080.com/cac-nhan-anh-huong-den-hieu-qua-dau-tu-xay-dung-co-ban.html
  10. 1/ Khái niệm và phân loại dịch vụ logistics a/ Khái niệm Logistics Tuy thuật ngữ logistics đã được thế giới sử dụng phổ biến trong suốt thời gian dài, nhưng tại Việt Nam thì thuật ngữ này còn khá mới mẻ. Trên thế giới hiện nay, logistics được biết đến với những khái niệm chủ yếu: – Tài liệu của Liên hợp quốc (UNESCAP) định nghĩa: “Logistics là hoạt động quản lý dòng chu chuyển và lưu kho nguyên vật liệu, quá trình sản xuất thành phẩm xử lý các thông tin liên quan v.v… từ nơi sản xuất đến nơi tiêu thụ cuối cùng theo yêu cầu của khách hàng.” Có thể bạn xem thêm các bài sau: + kỹ năng viết báo cáo + khái niệm khách sạn – Theo Ủy ban Quản lý Logistics của Hoa Kỳ: “Logistics là quá trình lập kế hoạch, chọn phương án tối ưu để thực hiện việc quản lý, kiểm soát việc di chuyển và bảo quản có hiệu quả về chi phí và ngắn nhất về thời gian đối với nguyên vật liệu, bán thành phẩm và thành phẩm, cũng như các thông tin tương ứng từ giai đoạn tiền sản xuất cho đến khi hàng hóa đến tay người tiêu dùng cuối cùng để đáp ứng yêu cầu của khách hàng.” – Theo Hội đồng Quản lý dịch vụ Logistics (CLM) quốc tế (Hội đồng này thiết lập các nguyên tắc, thể lệ, nội dung mà các DN cung cấp dịch vụ Logistics các nước thường áp dụng và chịu quy chế của Hội đồng này): “Logistics là một phần của quá trình cung cấp dây chuyền bao gồm lập kế hoạch, tổ chức thực hiện, kiểm soát hiệu quả, lưu thông hiệu quả và lưu giữ các loại hàng hoá, dịch vụ và có liên quan đến thông tin từ điểm cung cấp cơ bản đến các điểm tiêu thụ để đáp ứng các nhu cầu của khách hàng”. – Ngân hàng thế giới (WB) đưa ra khái niệm Logistics: “Logistics liên quan đến việc quản lý dây chuyền cung cấp hoàn chỉnh một sản phẩm đặc thù, bao gồm vận tải nguyên liệu đàu vào và sản phẩm đầu ra, lưu kho, phân phối, liên kết các phương thức vận tải và các dịch vụ tạo điều kiện thuận lợi cho thương mại.” Pháp luật Việt Nam Điều 233 Luật Thương mại năm 2005 (thay thế cho khái niệm “dịch vụ giao nhận hàng hóa” của Luật Thương mại năm 1997) định nghĩa: “Dịch vụ logistics là hoạt động thương mại, theo đó thương nhân tổ chức thực hiện một hoặc nhiều công việc bao gồm nhận hàng, vận chuyển, lưu kho, lưu bãi, làm thủ tục hải quan, các thủ tục giấy tờ khác, tư vấn khách hàng, đóng gói bao bì, ghi ký mã hiệu, giao hàng hoặc các dịch vụ khác có liên quan đến hàng hoá theo thoả thuận với khách hàng để hưởng thù lao. Dịch vụ logistics được phiên âm theo tiếng Việt là dịch vụ logistics”. Qua các định nghĩa trên cho thấy, logistics không phải là một dịch vụ đơn lẻ. Logistics luôn là một chuỗi các dịch vụ về giao nhận hàng hóa như: làm các thủ tục giấy tờ, tổ chức vận tải, bao bì đóng gói, ghi nhãn hiệu, lưu kho, lưu bãi, phân phát hàng hóa (nguyên liệu hay thành phẩm) tới các địa chỉ khác nhau. Chính vì vậy, nói tới logistics người ta bao giờ cũng nói tới một chuỗi hệ thống dịch vụ (logistics system chain). Logistics chính là quá trình tối ưu hóa mọi công việc, hoặc thao tác từ khâu cung ứng, sản xuất, phân phối và tiêu dùng. Cho đến nay, logistics chưa được dịch sang tiếng việt. Nên thuật ngữ này được dùng như một từ mượn tại Việt Nam. Bởi, chưa có quan điểm chung thống nhất và nó bao gồm nhiều loại hình dịch vụ các cách dịch đều chưa thỏa đáng, chưa thể hiện được đầy đủ nhất nội dung của nó. b/ Phân loại các loại hình dịch vụ logistics Theo Điều 4, Nghị định 140/2007 NĐ-CP quy định chi tiết Luật thương mại về dịch vụ Logistics, ta có 3 nhóm loại hình dịch vụ: các dịch vụ logistics chủ yếu, các dịch vụ logictics liên quan đến vận tải và các dịch vụ logictics liên quan khác. – Các dịch vụ logisticschủ yếu, bao gồm: + Dịch vụ bốc xếp hàng hoá, bao gồm cả hoạt động bốc xếp container; + Dịch vụ kho bãi và lưu giữ hàng hóa, bao gồm cả hoạt động kinh doanh kho bãi container và kho xử lý nguyên liệu, thiết bị; + Dịch vụ đại lý vận tải, bao gồm cả hoạt động đại lý làm thủ tục hải quan và lập kế hoạch bốc dỡ hàng hóa; + Dịch vụ bổ trợ khác, bao gồm cả hoạt động tiếp nhận, lưu kho và quản lý thông tin liên quan đến vận chuyển và lưu kho hàng hóa trong suốt cả chuỗi lô-gi-stíc; hoạt động xử lý lại hàng hóa bị khách hàng trả lại, hàng hóa tồn kho, hàng hóa quá hạn, lỗi mốt và tái phân phối hàng hóa đó; hoạt động cho thuê và thuê mua container. – Các dịch vụ lô-gi-stíc liên quan đến vận tải, bao gồm: + Dịch vụ vận tải hàng hải; + Dịch vụ vận tải thuỷ nội địa; + Dịch vụ vận tải hàng không; + Dịch vụ vận tải đường sắt; + Dịch vụ vận tải đường bộ. + Dịch vụ vận tải đường ống. Nguồn : https://luanvan1080.com/khai-niem-logistics.html
  11. 1. Nâng cao nhận thức về yêu cầu hội nhập về nhân lực du lịchNhận thức là yếu tố quan trọng hàng đầu, là nền tảng của một hoạt động từ xây dựng chính sách, tạo môi trường thuận lợi cho hoạt động phát triển và tổ chức các hoạt động cụ thể hướng đến thực hiện mục tiêu. Mục tiêu đào tạo để có được nguồn nhân lực du lịch đáp ứng yêu cầu hội nhập không phải là ngoại lệ, và để đạt được mục tiêu đó cần có được nhận thức chung của xã hội, đặc biệt là “quan thức” về vấn đề này.Tham khảo thêm các bài viết sau:+ kỹ năng viết báo cáo+ khái niệm khách sạn+ mục tiêu chiến lược là gìĐào tạo phát triển nguồn nhân lực được xem là một trong những giải pháp quan trọng trong chiến lược phát triển du lịch Việt Nam giai đoạn đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 đã được Thủ tướng chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 2473/QĐ-TTg ngày 30/12/2011. Tuy nhiên, nhận thức này cần được đặt trong bối cảnh hội nhập quốc tế về lao động, theo đó cần coi đào tạo nguồn nhân lực du lịch hướng đến chuẩn quốc tế là ưu tiên hàng đầu và được xem là khâu đột phá có nghĩa đặc biệt quan trọng để du lịch Việt Nam có thể hội nhập được đầy đủ với khu vực và quốc tế.Trong giai đoạn trước mắt cần ưu tiên xây dựng và thực hiện chuẩn hóa một bước nhân lực du lịch từ quản lý du lịch (nhà nước và doanh nghiệp) đến các vị trí nghiệp vụ du lịch phù hợp với các hệ thống tiêu chuẩn khu vực và quốc tế về lao động.2. Tổ chức hệ thống đào tạo du lịch phù hợp với yêu cầu hội nhậpPhối hợp với Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội và các bộ, ngành liên quan xem xét, đánh giá toàn diện về hệ thống cơ sở đào tạo du lịch phù hợp với yêu cầu phát triển ngành, có tham khảo hệ thống đào tạo ở các nước có du lịch phát triển để đảm bảo cơ cấu đào tạo du lịch ở các cấp là hợp lý, phù hợp với các chuẩn mực chung của khu vực và quốc tế. Đặc biệt cần sớm xây dựng và thực hiện đề án thành lập Học viện Du lịch hoặc Đại học Du lịch ở Việt Nam đạt chuẩn quốc tế. Đây sẽ là cơ sở đào tạo đội ngũ lao động du lịch trình độ cao, có khả năng đảm nhận vai trò nòng cốt trong hội nhập quốc tế của du lịch Việt Nam.Đối với việc phát triển đội ngũ giáo viên, giảng viên và đào tạo viên du lịch cần đảm bảo đủ về số lượng, hợp lý về cơ cấu, chuẩn về chất lượng để đáp ứng nhu cầu đào tạo, tăng quy mô và nâng cao chất lượng, hiệu quả đào tạo, bồi dưỡng nhân lực ngành du lịch. Việc đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ giảng viên và giáo viên của các cơ sở đào tạo Brexit và cộng đồng kinh tế ASEAN dưới góc nhìn hội nhập nghề du lịch có thể thực hiện bằng nhiều hình thức, đặc biệt là tham quan, học tập nâng cao trình độ giảng dạy ở ngoài nước. Chú trọng nâng cao trình độ tin học, ngoại ngữ và phương pháp giảng dạy để giảng viên, giáo viên và đào tạo viên du lịch đủ khả năng giảng dạy, tự nghiên cứu, trao đổi chuyên môn trực tiếp với chuyên gia nước ngoài, tham gia hội nghị, hội thảo, diễn đàn quốc tế và học tập, tu nghiệp ở nước ngoài.Có chính sách khuyến khích mời các chuyên gia quốc tế về du lịch, các giảng viên có kinh nghiệm ở các cơ sở đào tạo du lịch ở các nước có ngành du lịch phát triển sang Việt Nam tham gia giảng dạy, đặc biệt với những môn mới hoặc những môn mà Việt Nam còn ít các giảng viên, chuyên gia có trình độ cao. Bên cạnh đó cũng cần có cơ chế để thu hút sự tham gia tích cực của nhà quản lý, các nhà khoa học có trình độ, các doanh nhân có kinh nghiệm, các nghệ nhân, chuyên gia, kỹ thuật viên có kỹ năng nghề cao vào hoạt động đào tạo để nâng cao tính thực tiễn của các chương trình đào tạo du lịch.Để đảm bảo chất lượng đào tạo phù hợp với các chuẩn mực quốc tế, cần tiếp tục đào tạo kỹ năng cho đội ngũ thẩm định viên, giám sát viên, đào tạo viên du lịch đạt trình độ khu vực và quốc tế và sử dụng hiệu quả đội ngũ này trong đào tạo du lịch. Phối hợp với Bộ Giáo dục và Đào tạo mở mã ngành và đẩy mạnh đào tạo sau đại học về du lịch. Phối hợp chặt chẽ với Bộ Giáo dục và Đào tạo sửa đổi chương trình khung đào tạo chuyên ngành du lịch bậc trung học chuyên nghiệp; xây dựng, ban hành và tổ chức thực hiện chương trình khung đào tạo du lịch bậc cao đẳng và đại học, chương trình đào tạo du lịch liên thông các bậc đào tạo thống nhất cả nước. Phối hợp với Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội tổ chức xây dựng các chương trình khung đào tạo du lịch trình độ cao đẳng nghề, trung cấp nghề.Việc xây dựng các khung chương trình đào tạo trên cần được tính đến yếu tố hội nhập để đảm bảo các chương trình khung đào tạo phù hợp với chuẩn mực đào tạo khu vực và quốc tế. Theo đó cần tham khảo, học tập kinh nghiệm quốc tế trong xây dựng chương trình, giáo trình môn học, mô đun. Đổi mới mục tiêu, nội dung, chương trình đào tạo du lịch các cấp đào tạo theo hướng chuẩn hoá, hiện đại hoá; tiếp cận dần yêu cầu năng lực làm việc trong các lĩnh vực của ngành, trình độ tiên tiến của khu vực và thế giới, mang nét đặc trưng của Việt Nam, đảm bảo liên thông giữa các bậc đào tạo.Chuyển đổi mạnh sang đào tạo theo mô đun, tín chỉ để tạo điều kiện cho nhân lực ngành du lịch có thể học suốt đời để nâng cao trình độ nghề nghiệp hoặc thay đổi nghề nghiệp khi cần thiết.Trong quá trình xây dựng các khung hoặc chương trình đào tạo ở các cấp cần mời các chuyên gia, các giảng viên quốc tế có kinh nghiệm cùng tham gia thực hiện.3. Đẩy mạnh liên kết đào tạo du lịchĐể nâng cao tính mở cũng như chất lượng đào tạo du lịch, cần có cơ chế khuyến khích hoạt động liên kết đào tạo liên thông và liên kết đào tạo, trao đổi kinh nghiệm giữa các cơ sở đào tạo du lịch trong nước với các cơ sở đào tạo du lịch có uy tín ở nước ngoài.Đây là phương thức quan trọng để nâng cao năng lực của các cơ sở đào tạo trong nước hướng tới tiệm cận các chuẩn quốc tế về đào tạo.Chú trọng tạo cơ chế và khuyến khích phát triển mô hình liên kết giữa các cơ sở đào tạo du lịch với các doanh nghiệp du lịch, đặc biệt các doanh nghiệp liên doanh nước ngoài hoặc các doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài có uy tín, thương hiệu. Mô hình liên kết này đặc biệt có ý nghĩa đối với các bậc đào tạo trung cấp nghề du lịch bởi các sinh viên sẽ có cơ hội thực tập trong môi trường dịch vụ du lịch đẳng cấp quốc tế.
  12. Sản xuất hoa đã mang lại lợi ích to lớn cho nền kinh tế các nước trồng hoa trên thế giới. Diện tích trồng hoa trên thế giới ngày càng mở rộng và không ngừng tăng lên. Trong những năm gần đây, ngành sản xuất hoa cắt và cây cảnh không ngừng phát triển và mở rộng ở nhiều nước trên thế giới, như: Trung Quốc, Ấn Độ, Hàn Quốc, Nhật Bản, Đài Loan, Hà Lan, Mỹ, Pháp, Đức, Anh, Úc, Niu- Di- lân, Kê- ni-a, Ê-cu-a-do, Cô-lôm-bi-a, Ixraen… Hiện nay, Trung Quốc là nước có diện tích trồng hoa, cây cảnh lớn nhất thế giới với diện tích là 122.600 ha, nước có diện tích trồng hoa, cây cảnh lớn thứ hai là Ấn Độ: 65.000 ha. Mỹ là nước đứng thứ 3, với khoảng 23.300 ha (AIPH, 2004)[39].Tham khảo các bài viết sau:+ dich vu viet luan van thac si+ nhan lam luan van thue+ dich vu lam luan van tot nghiepTheo báo cáo năm 2005 của FAO, giá trị sản lượng hoa, cây cảnh của toàn thế giới năm 1995 đạt 45 tỷ USD, đến năm 2004 tăng lên 56 tỷ USD (tốc độ tăng bình quân năm là 20%). Trên thế giới có 3 thị trường tiêu thụ hoa chính là Mỹ, các nước châu Âu và Nhật Bản (Buschman và cộng sự, 2005)[41]. Hàng năm, giá trị xuất khẩu hoa cắt trên thế giới khoảng 25 tỷ USD, đứng đầu trong 4 nước xuất khẩu hoa trên thế giới là Hà Lan 1.590 triệu USD, Cô-lôm-bi-a 430 triệu USD, Kê-ny-a 70 triệu USD và Ixraen 135 triệu USD (Nguyễn Văn Tấp, 2008)[30].Hoa cúc là một trong 5 loại hoa cắt cành phổ biến nhất trên thế giới. Cây hoa cúc thu hút người tiêu dùng đặc biệt ở màu sắc phong phú: trắng, vàng, xanh, đỏ, tím, hồng, da cam… Không những vậy, hình dáng và kích cỡ hoa cũng rất đa dạng cùng với khả năng có thể điều khiển cho ra hoa tạo nguồn hàng hóa quanh năm đã khiến cho hoa cúc trở thành loài hoa được tiêu thụ đứng thứ hai trên thị trường thế giới (sau hoa hồng) (Đặng Ngọc Chi, 2006) [3].Hà Lan là một trong những nước lớn nhất thế giới về xuất khẩu hoa, cây cảnh nói chung và xuất khẩu cúc nói riêng. Diện tích trồng cúc của Hà Lan chiếm 30% tổng diện tích trồng hoa tươi. Hàng năm, Hà Lan đã sản xuất hàng trăm triệu hoa cúc cắt cành và hoa chậu phục vụ cho thị trường tiêu thụ rộng lớn gồm trên 80 nước trên thế giới. Tiếp sau là các nước: Nhật Bản, Côlômbia, Trung Quốc… Năm 2006, có 4 nước sản xuất hoa cúc trên thế giới đạt sản lượng cao nhất là Hà Lan đứng đầu với sản lượng 1,5 tỷ cành, Côlômbia là 900 triệu cành, Mê-hi-cô và I-ta-li-a đạt 300 triệu cành (Erik Van Berkum, 2007)[45].Nhật Bản hiện đang dẫn đầu tại châu Á về sản xuất và tiêu thụ hoa cúc, hàng năm Nhật Bản tiêu thụ khoảng gần 4.000 triệu Euro để phục vụ nhu cầu hoa trong nước (Jo Wijnands, 2005)[49]. Người dân Nhật Bản ưa thích hoa cúc và cúc trở thành là loài hoa quan trọng nhất tại Nhật Bản chiếm tới 36% sản phẩm nông nghiệp, mỗi năm Nhật Bản sản xuất khoảng hơn hai trăm triệu cành hoa phục vụ nhu cầu trong nước và xuất khẩu. Diện tích trồng hoa cúc chiếm 2/3 tổng diện tích trồng hoa. Năm 2008 diện tích trồng hoa ở Nhật Bản là 16.800 ha, giá trị sản lượng đạt 2.599 triệu USD (Takahiro Ando, 2009)[73]. Tuy vậy Nhật Bản vẫn phải nhập một lượng lớn hoa cúc từ Hà Lan và một số nước khác trên thế giới như Trung Quốc, Đài Loan, Ma-lai-xi-a, Thái Lan, Cô-lôm-bi-a…Ở Malaixia, cúc chiếm 23% tổng sản lượng hoa. Ngoài lan ra, 3 loại hoa quan trọng nhất là hồng, cúc và cẩm chướng chiếm 91,1% tổng sản lượng hoa ôn đới (Lim Heng Jong, 1998)[78].Một số nước khác như Thái Lan, cúc đã được trồng quanh năm với sản lượng cành cắt hàng năm là 50.841.500 cành và đạt năng suất 101.700/Rai (1ha= 6,25Rai) (Oradee Sahavacharin, 1998)[79]. Ở Trung Quốc, cúc là 1 trong 10 loài hoa cắt quan trọng sau hồng và cẩm chướng chiếm khoảng 20% tổng số hoa cắt trên thị trường bán buôn ở Bắc Kinh và Côn Minh. Vùng sản xuất hoa cúc chính là Quảng Đông, Thượng Hải, Bắc Kinh bao gồm các giống ra hoa mùa Hè, Thu, Đông sớm và Xuân muộn với loại cúc đơn, màu được ưa chuộng nhất là vàng, trắng, đỏ (Nguyễn Thị Kim Lý, 2001)[22]. Hàng năm, kim ngạch xuất nhập khẩu hoa cúc trên thế giới ước đạt tới 1,5 tỷ USD.
  13. Đứng trên quan điểm của nhà nghiên cứu, chúng ta cần xác định các phương pháp phân tích thích hợp dựa vào mục đích nghiên cứu và bản chất của dữ liệu thống kê. Do vậy, đầu tiên chúng ta tìm hiểu bản chất của dữ liệu thống kê qua khảo sát các cấp độ đo lường khác nhau vì mỗi cấp độ sẽ chỉ cho phép một số phương pháp nhất định mà thôi. Các bạn có thể xem thêm: + đánh giá chất lượng dịch vụ khách sạn + hành vi người tiêu dùng trong marketing + thị trường chứng khoán việt nam ra đời khi nào 1. Khái niệm số đo và thang đo Số đo: là việc gán những dữ kiện lượng hóa hay những ký hiệu cho những hiện tượng quan sát. Chẳng hạn như những đặc điểm của khách hàng về sự chấp nhận, thái độ, thị hiếu hoặc những đặc điểm có liên quan khác đối với một sản phẩm mà họ tiêu dùng. Thang đo: là tạo ra một thang điểm để đánh giá đặc điểm của đối tượng nghiên cứu thể hiện qua sự đánh giá, nhận xét. 2. Các loại thang đo: – Thang đo danh nghĩa (còn gọi là định danh or phân loại) – nominal scale: trong thang đo này các con số chỉ dùng để phân loại các đối tượng, chúng không mang ý nghĩa nào khác. Về thực chất thang đo danh nghĩa là sự phân loại và đặt tên cho các biểu hiện và ấn định cho chúng một ký số tương ứng. Ví dụ: Giới tính: 1: nữ; 2: nam. – Thang đo thứ bậc – ordinal scale: lúc này các con số ở thang đo danh nghĩa được sắp xếp theo 1 quy ước nào đó về thứ bậc hay sự hơn kém, nhưng ta không biết được khoảng cách giữa chúng. Điều này có nghĩa là bất cứ thang đo thứ bậc nào cũng là thang đo danh nghĩa nhưng điều ngược lại thì chưa chắc đúng. Ví dụ: ta có thể mã hóa cho sự hài lòng như sau: 1: không hài lòng; 2: bình thường; 3: hài lòng. Lúc này ta không biết được là mức độ hài lòng của người chọn số 3 là gấp bao nhiêu lần so với khi chọn số 2 or 1. – Thang đo khoảng – interval scale: là một dạng đặc biệt của thang đo thứ bậc vì nó cho biết được khoảng cách giữa các thứ bậc. Thông thường thang đo khoảng có dạng là một dãy các chữ số liên tục và đều đặn từ 1 đến 5, từ 1 đến 7 hay từ 1 đến 10. Dãy số này có 2 cực ở 2 đầu thể hiện 2 trạng thái đối nghịch nhau. Ví dụ: 1: hoàn toàn không đồng ý; 2: không đồng ý; 3: bình thường; 4: đồng ý; 5: hoàn toàn đồng ý. – Thang đo tỉ lệ – ratio scale: thang đo tỉ lệ có tất cả các đặc tính khoảng cách và thứ tự của thang đo khoảng, ngoài ra điểm 0 trong thang đo tỉ lệ là một số “thật” nên ta có thể thực hiện được phép toán chia để tính tỉ lệ nhằm mục đích so sánh. Ví dụ: 1 người 50 tuổi thì có tuổi lớn gấp đôi người 25 tuổi Lưu ý: SPSS gộp chung 2 thang đo khoảng và tỉ lệ lại thành một – gọi là Scale Measures (thang đo mức độ)
  14. Hướng dẫn các kỹ năng viết báo cáo hay nhất, chi tiết nhất Nghiên cứu khoa học là một hoạt động có tổ chức và logic, do vậy viết báo cáo cũng phải có tổ chức và logic. Bài viết này cung cấp các tiến trình và kỹ năng viết báo cáo cơ bản để các bạn có thể thực hiện một bài báo về kết quả nghiên cứu. Hy vọng rằng các nội dung được giải thích trong bài viết có thể giúp bạn cải thiện kỹ năng trong việc viết một bài báo khoa học. 1/ Viết bài báo khoa học và kỹ năng viết báo cáo Một câu hỏi thông thường là tại sao các nhà khoa học phải viết bài báo khoa học? Có nhiều lý do, có thể là để đóng góp kiến thức trong một lĩnh vực chuyên môn, hỗ trợ phát triển nghề nghiệp, báo cáo cho nhà tài trợ đã cung cấp tiền nghiên cứu, hoặc để trở nên nổi tiếng,… Trong nhiều lý do, lý do quan trọng nhất để viết bài báo khoa học là thông tin vì thông tin hiệu quả là sức sống cho khoa học phát triển. Các bài viết có thể xem thêm: + Hàng hóa sức lao động là gì + cải cách hành chính nhà nước là gì 2/ Các câu hỏi đầu tiên Trước khi viết bài báo khoa học bạn cần tự hỏi mình các câu hỏi sau: – Nghiên cứu của bạn đã đủ sâu chưa để viết bài báo? – Đây là bài báo để trình cho nhà tài trợ hay một tổ chức giảng dạy để nhận bằng cấp hoặc đây là một bài báo để báo cáo định kỳ cho một tổ chức? – Đây là bài báo cần xuất bản để thông tin kết quả nghiên cứu cho mọi người? 3/ Các đặc điểm của một bài báo khoa học tốt – Trình bày chính xác về kết quả nghiên cứu. – Viết rõ ràng và dễ hiểu. – Tuân theo kiểu trình bày chuyên biệt về kiến thức khoa học. – Không sử dụng từ ngữ khó hiểu hay thông tục. – Tài liệu chứng minh đầy đủ và thích hợp, có liên hệ với chủ đề của bài báo. – Không sử dụng kết quả nghiên cứu (chưa xuất bản) của người khác khi chưa được sự đồng ý (đây là một lỗi lầm rất nghiêm trọng). 4/ Các phần của một bài báo Một bài báo khoa học mẫu bao gồm các thành phần sau đây, được liệt kê theo thứ tự xuất hiện trong bài viết: – Tựa đề (Title): Đây là tên của bài báo, cần ngắn gọn và phù hợp để chú dẫn (indexing). – Tác giả (Authors): Liệt kê tên người thực hiện nghiên cứu và viết bài báo. – Địa chỉ thư tín (Postal address): Địa chỉ đầy đủ của tác giả để người đọc có thể liên hệ được. – Tóm lược (Abstract): Mô tả vắn tắt vấn đề và kết quả. – Giới thiệu (Introduction): Cho biết vấn đề nghiên cứu là vấn đề gì và giới thiệu các thông số nghiên cứu. – Vật liệu và phương pháp (Materials and methods): Bạn đã nghiên cứu vấn đề như thế nào, phải trình bày như thế nào để người khác có khả năng lập lại nghiên cứu của bạn. – Kết quả (Results): Bạn đã tìm được kết quả gì, trình bày số liệu. – Thảo luận (Discussion): Các kết quả tìm được có ý nghĩa gì? thảo luận và giải thích kết quả. – Cảm tạ (Ackowledgements): Cảm tạ người tài trợ kinh phí nghiên cứu, những người quan trọng đã giúp bạn nghiên cứu (không phải các tác giả viết chung bài báo). – Tài liệu tham khảo (References): Liệt kê các tác giả, năm xuất bản và tên tài liệu,… mà bạn đã tham khảo để phát biểu trong bài báo. 5/ Hướng dẫn kỹ năng viết bài báo cho từng phần a/ Tên đề tài (Title) – Tên đề tài là phần được đọc nhiều nhất vì các lý do: các nhà nghiên cứu khác đọc nó khi lướt qua nội dung của một tạp chí và thông qua việc tìm kiếm tài liệu từ các nguồn thông tin thứ cấp thường ghi tên đề tài và tên tác giả. Tên đề tài có thể được lưu trữ trong thư mục về cơ sở dữ liệu, chú dẫn và được trích dẫn trong các bài báo khác. Tên đề tài có thể giúp các nhà nghiên cứu tìm kiếm các thông tin quan trọng. Một tên đề tài tốt cần: – Chứa ít từ ngữ nếu có thể được. Bỏ các từ không cần thiết, thí dụ: Một số chú ý trên…., Các quan sát trên…. để làm tên đề tài được cô đọng. Nhiều tạp chí yêu cầu tối đa 25 từ. – Mô tả chủ đề một cách chuyên biệt trong một không gian giới hạn. Không được hứa hẹn nhiều hơn nội dung của bài viết. Thông thường tên đề tài nêu rõ chủ đề nghiên cứu hơn là kết quả nghiên cứu. – Tên đề tài phản ánh chính xác về nội dung bài viết và dễ hiểu, tránh dùng chữ viết tắt, công thức và từ ngữ khó hiểu. Sử dụng những từ ngữ quan trọng nhất, đặt chúng trước tiên trong tên đề tài. – Hạn chế sử dụng động từ (verb). – Bao gồm các từ khóa (keywords) quan trọng nếu có thể được vì chúng sẽ được sử dụng cho chú dẫn và tìm kiếm qua mạng. – Tuân theo kiểu định dạng bài báo của nơi bạn định xuất bản. Nguồn: https://luanvan1080.com/ky-nang-viet-bao-cao.html