tungluanvan

Thành Viên Phố
  • Số bài viết

    13
  • Tham gia

  • Lần cuối online

  • Xác Thực

    N/A
Nhạc yêu thích của tôi

Điểm ưu tú

0 Neutral

About tungluanvan

  • Rank

Thông tin liên lạc

  • website
    https://luanvan1080.com/

Thông tin cá nhân

  • Họ và tên
    Tùng luận văn
  • Điện thoại
    01699020264
  • Địa chỉ
    129 phan văn trường cầu giấy hà nội
  • Thành Phố
    Hà Nội
  • Giới Tính
  1. Đứng trên quan điểm của nhà nghiên cứu, chúng ta cần xác định các phương pháp phân tích thích hợp dựa vào mục đích nghiên cứu và bản chất của dữ liệu thống kê. Do vậy, đầu tiên chúng ta tìm hiểu bản chất của dữ liệu thống kê qua khảo sát các cấp độ đo lường khác nhau vì mỗi cấp độ sẽ chỉ cho phép một số phương pháp nhất định mà thôi. Các bạn có thể xem thêm: + đánh giá chất lượng dịch vụ khách sạn + hành vi người tiêu dùng trong marketing + thị trường chứng khoán việt nam ra đời khi nào 1. Khái niệm số đo và thang đo Số đo: là việc gán những dữ kiện lượng hóa hay những ký hiệu cho những hiện tượng quan sát. Chẳng hạn như những đặc điểm của khách hàng về sự chấp nhận, thái độ, thị hiếu hoặc những đặc điểm có liên quan khác đối với một sản phẩm mà họ tiêu dùng. Thang đo: là tạo ra một thang điểm để đánh giá đặc điểm của đối tượng nghiên cứu thể hiện qua sự đánh giá, nhận xét. 2. Các loại thang đo: – Thang đo danh nghĩa (còn gọi là định danh or phân loại) – nominal scale: trong thang đo này các con số chỉ dùng để phân loại các đối tượng, chúng không mang ý nghĩa nào khác. Về thực chất thang đo danh nghĩa là sự phân loại và đặt tên cho các biểu hiện và ấn định cho chúng một ký số tương ứng. Ví dụ: Giới tính: 1: nữ; 2: nam. – Thang đo thứ bậc – ordinal scale: lúc này các con số ở thang đo danh nghĩa được sắp xếp theo 1 quy ước nào đó về thứ bậc hay sự hơn kém, nhưng ta không biết được khoảng cách giữa chúng. Điều này có nghĩa là bất cứ thang đo thứ bậc nào cũng là thang đo danh nghĩa nhưng điều ngược lại thì chưa chắc đúng. Ví dụ: ta có thể mã hóa cho sự hài lòng như sau: 1: không hài lòng; 2: bình thường; 3: hài lòng. Lúc này ta không biết được là mức độ hài lòng của người chọn số 3 là gấp bao nhiêu lần so với khi chọn số 2 or 1. – Thang đo khoảng – interval scale: là một dạng đặc biệt của thang đo thứ bậc vì nó cho biết được khoảng cách giữa các thứ bậc. Thông thường thang đo khoảng có dạng là một dãy các chữ số liên tục và đều đặn từ 1 đến 5, từ 1 đến 7 hay từ 1 đến 10. Dãy số này có 2 cực ở 2 đầu thể hiện 2 trạng thái đối nghịch nhau. Ví dụ: 1: hoàn toàn không đồng ý; 2: không đồng ý; 3: bình thường; 4: đồng ý; 5: hoàn toàn đồng ý. – Thang đo tỉ lệ – ratio scale: thang đo tỉ lệ có tất cả các đặc tính khoảng cách và thứ tự của thang đo khoảng, ngoài ra điểm 0 trong thang đo tỉ lệ là một số “thật” nên ta có thể thực hiện được phép toán chia để tính tỉ lệ nhằm mục đích so sánh. Ví dụ: 1 người 50 tuổi thì có tuổi lớn gấp đôi người 25 tuổi Lưu ý: SPSS gộp chung 2 thang đo khoảng và tỉ lệ lại thành một – gọi là Scale Measures (thang đo mức độ)
  2. Hướng dẫn các kỹ năng viết báo cáo hay nhất, chi tiết nhất Nghiên cứu khoa học là một hoạt động có tổ chức và logic, do vậy viết báo cáo cũng phải có tổ chức và logic. Bài viết này cung cấp các tiến trình và kỹ năng viết báo cáo cơ bản để các bạn có thể thực hiện một bài báo về kết quả nghiên cứu. Hy vọng rằng các nội dung được giải thích trong bài viết có thể giúp bạn cải thiện kỹ năng trong việc viết một bài báo khoa học. 1/ Viết bài báo khoa học và kỹ năng viết báo cáo Một câu hỏi thông thường là tại sao các nhà khoa học phải viết bài báo khoa học? Có nhiều lý do, có thể là để đóng góp kiến thức trong một lĩnh vực chuyên môn, hỗ trợ phát triển nghề nghiệp, báo cáo cho nhà tài trợ đã cung cấp tiền nghiên cứu, hoặc để trở nên nổi tiếng,… Trong nhiều lý do, lý do quan trọng nhất để viết bài báo khoa học là thông tin vì thông tin hiệu quả là sức sống cho khoa học phát triển. Các bài viết có thể xem thêm: + Hàng hóa sức lao động là gì + cải cách hành chính nhà nước là gì 2/ Các câu hỏi đầu tiên Trước khi viết bài báo khoa học bạn cần tự hỏi mình các câu hỏi sau: – Nghiên cứu của bạn đã đủ sâu chưa để viết bài báo? – Đây là bài báo để trình cho nhà tài trợ hay một tổ chức giảng dạy để nhận bằng cấp hoặc đây là một bài báo để báo cáo định kỳ cho một tổ chức? – Đây là bài báo cần xuất bản để thông tin kết quả nghiên cứu cho mọi người? 3/ Các đặc điểm của một bài báo khoa học tốt – Trình bày chính xác về kết quả nghiên cứu. – Viết rõ ràng và dễ hiểu. – Tuân theo kiểu trình bày chuyên biệt về kiến thức khoa học. – Không sử dụng từ ngữ khó hiểu hay thông tục. – Tài liệu chứng minh đầy đủ và thích hợp, có liên hệ với chủ đề của bài báo. – Không sử dụng kết quả nghiên cứu (chưa xuất bản) của người khác khi chưa được sự đồng ý (đây là một lỗi lầm rất nghiêm trọng). 4/ Các phần của một bài báo Một bài báo khoa học mẫu bao gồm các thành phần sau đây, được liệt kê theo thứ tự xuất hiện trong bài viết: – Tựa đề (Title): Đây là tên của bài báo, cần ngắn gọn và phù hợp để chú dẫn (indexing). – Tác giả (Authors): Liệt kê tên người thực hiện nghiên cứu và viết bài báo. – Địa chỉ thư tín (Postal address): Địa chỉ đầy đủ của tác giả để người đọc có thể liên hệ được. – Tóm lược (Abstract): Mô tả vắn tắt vấn đề và kết quả. – Giới thiệu (Introduction): Cho biết vấn đề nghiên cứu là vấn đề gì và giới thiệu các thông số nghiên cứu. – Vật liệu và phương pháp (Materials and methods): Bạn đã nghiên cứu vấn đề như thế nào, phải trình bày như thế nào để người khác có khả năng lập lại nghiên cứu của bạn. – Kết quả (Results): Bạn đã tìm được kết quả gì, trình bày số liệu. – Thảo luận (Discussion): Các kết quả tìm được có ý nghĩa gì? thảo luận và giải thích kết quả. – Cảm tạ (Ackowledgements): Cảm tạ người tài trợ kinh phí nghiên cứu, những người quan trọng đã giúp bạn nghiên cứu (không phải các tác giả viết chung bài báo). – Tài liệu tham khảo (References): Liệt kê các tác giả, năm xuất bản và tên tài liệu,… mà bạn đã tham khảo để phát biểu trong bài báo. 5/ Hướng dẫn kỹ năng viết bài báo cho từng phần a/ Tên đề tài (Title) – Tên đề tài là phần được đọc nhiều nhất vì các lý do: các nhà nghiên cứu khác đọc nó khi lướt qua nội dung của một tạp chí và thông qua việc tìm kiếm tài liệu từ các nguồn thông tin thứ cấp thường ghi tên đề tài và tên tác giả. Tên đề tài có thể được lưu trữ trong thư mục về cơ sở dữ liệu, chú dẫn và được trích dẫn trong các bài báo khác. Tên đề tài có thể giúp các nhà nghiên cứu tìm kiếm các thông tin quan trọng. Một tên đề tài tốt cần: – Chứa ít từ ngữ nếu có thể được. Bỏ các từ không cần thiết, thí dụ: Một số chú ý trên…., Các quan sát trên…. để làm tên đề tài được cô đọng. Nhiều tạp chí yêu cầu tối đa 25 từ. – Mô tả chủ đề một cách chuyên biệt trong một không gian giới hạn. Không được hứa hẹn nhiều hơn nội dung của bài viết. Thông thường tên đề tài nêu rõ chủ đề nghiên cứu hơn là kết quả nghiên cứu. – Tên đề tài phản ánh chính xác về nội dung bài viết và dễ hiểu, tránh dùng chữ viết tắt, công thức và từ ngữ khó hiểu. Sử dụng những từ ngữ quan trọng nhất, đặt chúng trước tiên trong tên đề tài. – Hạn chế sử dụng động từ (verb). – Bao gồm các từ khóa (keywords) quan trọng nếu có thể được vì chúng sẽ được sử dụng cho chú dẫn và tìm kiếm qua mạng. – Tuân theo kiểu định dạng bài báo của nơi bạn định xuất bản. Nguồn: https://luanvan1080.com/ky-nang-viet-bao-cao.html
  3. Sự ra đời và phát triển của thị trường ngoại hối gắn liền sự ra đời và phát triển của ngoại thương. Cách đây khoảng 4000 năm đã diễn ra bước ngoặt trong thanh toán quốc tế đó là việc sử dụng những đồng xu có dán tem của ngân hàng, của nhà vua và của người buôn. Sau đó những đồng tiền kim loại dần dần phổ biến trong thanh toán quốc tế. Ban đầu giá trị của những đồng xu được xác định theo giá trị của kim loại làm lên chính đồng xu đó. Sau đó khi khối lượng những đồng xu trong lưu thông tăng lên theo nhu cầu của thương mại và với vai trò phương tiện trao đổi tăng lên xuất hiện những nhà đổi tiền chuyên nghiệp vào thời cổ ở Trung Đông. Với một lượng đồng xu nhất định những nhà buôn chuyên nghiệp có thể đổi lấy một lượng tương ứng các đồng xu khác. Đây là dấu hiệu đầu tiên đánh dấu sự ra đời của việc kinh doanh ngoại hối và thị trường ngoại hối.Tham khảo thêm các dịch vụ của Luận Văn 1080:+ giá thuê viết luận văn thạc sĩ+ dịch vụ làm chuyên đề thuêSau đó khi đế quốc Rôm sụp đổ, trong suốt thời kỳ đầu của thời trung cổ, cùng với các điều kiện chính trị, tài chính không ổn định, các giao dịch thương mại quốc tế giảm sút thì kinh doanh ngoại hối cũng sụp giảm theo. Sau đó vào thế kỷ 11, khi các luồng thương mại, tư bản quốc tế tăng lên, việc kinh doanh ngoại hối trở lên thịnh vượng hơn thì các giao dịch ngoại hối bằng đồng xu có những hạn chế, và ngày càng giảm dần. Để khắc phục hạn chế trên đồng thời đáp ứng yêu cầu của thương mại quốc tế đã tạo điều kiện cho sự ra đời và phát triển của ngân hàng quốc tế. Các ngân hàng quốc tế có chi nhánh và mở rộng mối quan hệ với các ngân hàng đại lý ở các nước bạn hàng là đối tác. Hối phiếu ra đời trở thành công cụ chuyển nhượng được. Những người hưởng lợi hối phiếu chuyển nhượng hối phiếu cho bên thứ ba. Bắt đầu từ đây một hình thức tiền tệ mới được tạo ra, đã giúp cho thị trường trở nên linh hoạt hơn, khối lượng giao dịch ngoại hối gia tăng nhiều hơn. Khi các giao dịch chuyển khoản giữa các ngân hàng ngày càng gia tăng đã thúc đẩy thị trường ngoại hối phát triển. Thị trường ngoại hối đã thực sự chuyển từ hệ thống tiền mặt hữu hình sang thị trường dưới dạng hỗn hợp giữa tiền mặt và tín dụng.Trong những năm sau 1800, cuộc cách mạng truyền thông giữa Châu Âu và Bắc Mỹ là khởi điểm cho sự hình thành và phát triển thị trường ngoại hối có tính chất toàn cầu.Đầu thế kỷ 20, hai cuộc đại chiến thế giới đã làm gián đoạn sự phát triển thị trường ngoại hối. Tuy nhiên sau đại chiến, hoạt động của thị trường ngoại hối trở nên vô cùng sôi động. Các hoạt động trao đổi thương mại đi kèm với nó là việc mua bán ngoại tệ với mức độ rủi ro cao, các biện pháp tự bảo hiểm bằng hợp đồng kỳ hạn trở nên phổ biến. Trong thực tế việc sử dụng hợp đồng kỳ hạn phổbiến đến mức trong một số lĩnh vực, nó trở thành một bộ phận bắt buộc của hợp đồng thương mại. Điều đó có nghĩa là trong các hoạt động thương mại bắt buộc phải có hợp đồng ngoại hối kỳ hạn thì mới có giá trị. Tuy nhiên có một số quan điểm của những chủ ngân hàng và một số nhà hoạt động chính trị cho rằng hợp đồng kỳ hạn với bản chất là hoạt động đầu cơ và không ủng hộ sự phát triển của thị trường kỳ hạn. Tuy nhiên, xuất phát từ yêu cầu của thương mại quốc tế thì thị trường kỳ hạn vẫn phát triển.Vào năm 1931, sự đình chỉ của chế độ bản vị vàng cùng với sự sụp đổ của các ngân hàng, những khó khăn trong thanh toán đối với một số đồng tiền đã gây trở ngại đối với sự phát triển của thị trường ngoại hối. Tuy nhiên các hoạt động của thị trường cũng dần đi vào ổn định ngay sau đó. London đã trở thành trung tâm giao dịch ngoại hối lớn nhất trong thời kỳ này bên cạnh sự phát triểnmạnh mẽ của các trung tâm khác như Paris, Amsterdam, NewYork.Thời kỳ sau đại chiến thế giới lần thứ hai, thị trường ngoại hối vẫn tiếp tục phát triển. Đồng USD vẫn đóng vai trò là đồng tiền chủ đạo trong các giao dịch ngoại hối. Sự tham gia của chính phủ vào thị trường ngoại hối ngày càng trở nên rõ rệt và thường xuyên hơn. Thời kỳ này đánh dấu sự phát triển ổn định của thị trường ngoại hối khi mà giá trị của các đồng tiền được kiểm soát chặt chẽvà tỷ giá giữa các đồng tiền chỉ giao động trong một biên độ hẹp.Vào năm 1944, thỏa thuận Bretton Woods đã mang lại sự ổn định và trật tự mới trên thị trường. Đồng đô la Mỹ được các Ngân hàng Trung ương trên thế giới chọn làm đồng tiền dự trữ quốc tế, bởi vì nước Mỹ cam kết sẽ chuyển đổi đô la Mỹ thành vàng không hạn chế theo tỷ giá cố định 1ounce vàng = 35 USD. Vào tháng 8/1971, hệ thống tiền tệ Bretton Wood đã sụy đổ. Chế độ bản vị vàng đã chấm dứt. Vàng được trao đổi với tỷ lệ là 38$/ounce và các đồng tiền khác được phép dao động 2,25%, chỉ hơn 1% so với hệ thống tiền tệ Bretton Wood. Sau đó một số nước quyết định bãi bỏ tỷ lệ trao đổi này và để đồng tiền của họ thả nổi. Các Ngân hàng trung ương của các nước có đồng tiền giao dịch trên thị trường ngoại hối theo dõi sát sao và can thiệp vào thị trường mở thườngxuyên hơn nhằm duy trì các hoạt động trên thị trường ngoại hối có trật tự hơn và khi cần thiết có thể điều chỉnh tỷ giá theo mong muốn của mình.Thời kỳ những năm 1990, thị trường ngoại hối đã có những phát triển hơn và trở nên phức tạp hơn, khó dự đoán hơn. Những chủ ngân hàng và những kinh doanh luôn mọi cách để gia tăng tốc độ luân chuyển của tiền. Sự tham gia ngày càng nhiều của các thành viên vào thị trường khiến cho thị trường càng trở nên biến động nhiều hơn. Các thành viên của thị trường luôn tìm kiếm cơ hội sinh lời khi có sự biến động tỷ giá. Cơ sở hạ tầng truyền thông cải tiến đáng kể đã liên kết cả thế giới trong một mạng của những sợi cáp. Các thành viên của thị trường mà chủ yếu là các ngân hàng, các nhà đầu tư chuyên nghiệp vẫn đóng vai trò chủ đạo trên thị trường. Các công ty tham gia vào thị trường nhằm quản lý rủi ro ngoại hối và trực tiếp kinh doanh ngoại hối. Tuy nhiên những ảnh hưởng của các công ty lên thị trường vẫn ở mức khiêm tốn. Ngoài ra những những cá nhân có thể ảnh hưởng đến thị trường khi họ sử dụng ngoại hối với các cơ chế khác nhau.Những biến động của tỷ giá là cơ hội để các thành viên của thị trường tìm kiếm lợi nhuận. Dù thị trường biến động theo hướng nào thì các nhà kinh doanh chuyên nghiệp, các công ty quản lý quỹ, các ngân hàng, các cá nhân có thể thu lời nếu xác định đúng xu hướng vận động của thị trường. Việc di chuyển các đồng tiền chính để cân đối trạng thái dư thừa và thiếu hụt trong cán cân thươngmại và dịch vụ giữa các quốc gia cũng là yếu tố làm cho thị trường ngoại hối biến động mạnh. Các nguồn tài chính từ các quỹ đầu tư, các quỹ hưu trí sẵn sàng đầu tư vào các đồng tiền khác nhau nhằm tìm kiếm lợi nhuận. Như vậy, sự di chuyển của các luồng từ đồng tiền này sang đồng tiền khác đã ảnh hưởng lớn sự biến động của tỷ giá. Sự biến động của tỷ giá của hầu hết các đồng tiền còn bị tác động bởi sự biến động giá của USD, là đồng tiền được ưa chuộng nhất. Sự nắm giữ ngày càng nhiều các tài sản bằng đồng USD của người nước ngoài làm cho thị trường ngoại hối có những biến động mạnh mẽ và đạt tới sự phát triển như ngày nay với quy mô lớn chưa từng thấy.
  4. 1. Khái niệm về hiệu quả sử dụng vốnĐể đánh giá trình độ quản lý, điều hành hoạt động sản xuất kinh doanh của mỗi doanh nghiệp, người ta sử dụng thước đo là hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp đó. Hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh được đánh giá trên hai giác độ: Hiệu quả kinh tế và hiệu quả xã hội.Trong phạm vi quản lý doanh nghiệp, người ta chủ yếu quan tâm đến hiệu quả kinh tế. Đây là một phạm trù kinh tế phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực của doanh nghiệp để đạt được kết quả cao nhất với chi phí hợp lý nhất. Do vậy các nguồn lực kinh tế đặc biệt là nguồn vốn của doanh nghiệp có tác động rất lớn tới hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.Có thể tham khảo thêm các bài sau:+ Cấu trúc bài tiểu luận+ Lời mở đầu Báo cáo thực tậpVì thế việc nâng cao hiệu quả sử dụng vốn là yêu cầu mang tính thường xuyên và bắt buộc đối với doanh nghiệp. Đánh giá hiệu quả sử dụng vốn sẽ giúp ta thấy được hiệu quả của hoạt động kinh doanh nói chung và quản lý sử dụng vốn nói riêng.Hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp là một phạm trù kinh tế phản ánh trình độ khai thác, sử dụng và quản lý nguồn vốn làm cho đồng vốn sinh lời tối đa nhằm mục tiêu cuối cùng của doanh nghiệp là tối đa hoá giá trị tài sản của chủ sở hữu.Hiệu quả sử dụng vốn được lượng hoá thông qua hệ thống các chỉ tiêu về khả năng hoạt động, khả năng sinh lời, tốc độ luân chuyển vốn,…Nó phản ánh quan hệ giữa đầu ra và đầu vào của quá trình sản xuất kinh doanh thông qua thước đo tiền tệ hay cụ thể là mối tương quan giữa kết quả thu được với chi phí bỏ ra để thực hiện nhiệm vụ sản xuất kinh doanh. Kết quả thu được càng cao so với chi phí vốn bỏ ra thì hiệu quả sử dụng vốn càng cao.2. Khái niệm về nâng cao hiệu quả sử dụng vốn kinh doanhNâng cao hiệu quả sử dụng vốn trong doanh nghiệp là nâng cao năng lực khai thác và sử dụng vốn của doanh nghiệp vào trong hoạt động sản xuất kinh doanh nhằm mục đích tối đa hóa lợi ích của chủ sở hữu và tối thiểu hóa chi phí.Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn là một đòi hỏi bức thiết đối với doanh nghiệp. Vì nó có ý nghĩa quyết định đến hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Ta có thể hiểu về nâng cao hiệu quả sử dụng vốn trên hai khía cạnh như sau:– Với số vốn hiện có có thể sản xuất được một lượng sản phẩm có giá trị hơn trước, chất lượng tốt hơn, giá thành cao hơn để tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp.– Đầu tư thêm vốn vào sản xuất kinh doanh một cách hợp lý nhằm mở rộng quy mô sản xuất để tăng doanh số tiêu thụ với yêu cầu tốc độ tăng của lợi nhuận phải lớn hơn tốc đột tăng của vốn.Nguồn : https://luanvan1080.com/hieu-qua-su-dung-von-kinh-doanh.html
  5. 1. Kiểm tra chất lượng – I (Inspection)Một phương pháp phổ biến nhất để đảm bảo chất lượng sản phẩm phù hợp với quy định là kiểm tra các chi tiết và các sản phẩm nhằm sàng lọc và loại ra bất cứ một chi tiết nào không đảm bảo tiêu chuẩn hay quy cách kỹ thuật.Đầu thế kỷ 20, sản xuất với khối lượng lớn phát triển rộng rãi, khách hàng có yêu cầu ngày càng cao về chất lượng, sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp về chất lượng ngày càng gay gắt. Họ nhận ra rằng kiểm tra không phải là cách tốt nhất. Theo định nghĩa, kiểm tra chất lượng là hoạt động như đo, xem xét, thử nghiệm, định cỡ một hay nhiều đặc tính của đối tượng và so sánh kết quả với yêu cầu nhằm xác định sự phù hợp của mỗi đặc tính. Kiểm tra chỉ là sự phân loại sản phẩm, một cách xử lý “chuyện đã rồi” hay chất lượng không được tạo nên qua kiểm tra.Các bài có thể xem thêm + quản lý là gì+ các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng sản phẩm2. Kiểm soát chất lượng – QC (Quality Control)Kiểm soát chất lượng là các hoạt động và kỹ thuật mang tính tác nghiệp được sử dụng để đáp ứng các yêu cầu chất lượng.Để kiểm soát chất lượng, Công ty phải kiểm soát được mọi yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình tạo ra chất lượng. Việc kiểm soát này nhằm ngăn ngừa sản xuất ra sản phẩm khuyết tật. Kiểm soát chất lượng là kiểm soát các yếu tố: Con người, Phương pháp và quá trình, Đầu vào, Thiết bị, Môi trường.Để quá trình kiểm soát chất lượng đạt hiệu quả, doanh nghiệp cần xây dựng một cơ cấu tổ chức phù hợp, phân công trách nhiệm rõ ràng giữa các bộ phận. Hoạt động kiểm soát chất lượng được tiến hành theo chu trình P (Plan – Kế hoạch) – D (Do – Thực hiện) – C (Check – Kiểm tra) – A (Action – điều chỉnh).3. Kiểm soát Chất lượng Toàn diện – TQC (Total Quality Control)Các kỹ thuật kiểm soát chất lượng chỉ được áp dụng hạn chế trong khu vực sản xuất và kiểm tra. Để đạt được mục tiêu chính của QLCL là thỏa mãn người tiêu dùng, không chỉ áp dụng các phương pháp này vào các quá trình xảy ra trước quá trình sản xuất và kiểm tra, như khảo sát thị trường, nghiên cứu, lập kế hoạch, phát triển, thiết kế và mua hàng, mà còn phải áp dụng cho các quá trình xảy ra sau đó, như đóng gói, lưu kho, vận chuyển, phân phối, bán hàng, dịch vụ sau khi bán hàng. Phương thức quản lý này được gọi là Kiểm soát Chất lượng Toàn diện.Kiểm soát chất lượng toàn diện được Armand V.Feigenbaum định nghĩa như sau: Kiểm soát chất lượng toàn diện là một hệ thống có hiệu quả để nhất thể hoá các nỗ lực phát triển, duy trì và cải tiến chất lượng của các nhóm khác nhau vào trong một tổ chức sao cho các hoạt động marketing, kỹ thuật, sản xuất và dịch vụ có thể tiến hành một cách kinh tế nhất, cho phép thoả mãn hoàn toàn khách hàng.4. Đảm bảo chất lượng – QA (Quality Assurance)Đảm bảo chất lượng là các hoạt động có kế hoạch, có hệ thống nhằm tạo sự tin tưởng rằng đối tượng sẽ thỏa mãn đầy đủ các yêu cầu về chất lượng.Đảm bảo chất lượng nội bộ nhằm tạo lòng tin cho lãnh đạo và các thành viên trong tổ chức, đảm bảo chất lượng với bên ngoài nhằm tạo lòng tin cho khách hàng và những người có liên quan khác rằng yêu cầu chất lượng được thỏa mãn.Để đảm bảo chất lượng hiệu quả, lãnh đạo cấp cao của doanh nghiệp phải xác định đúng đắn chính sách chất lượng, phải xây dựng hệ thống chất lượng có hiệu lực và hiệu quả, kiểm soát được các quá trình ảnh hưởng đến chất lượng, ngăn ngừa các nguyên nhân gây chất lượng kém. Đồng thời tổ chức phải đưa ra được những bằng chứng chứng minh khả năng kiểm soát chất lượng của mình nhằm tạo lòng tin đối với khách hàng.Nguồn: https://nhanvietluanvan.com/mot-so-phuong-phap-quan-ly-chat-luong/
  6. 1. Những yếu tố trình độ văn hoáNhững yếu tố về trình độ văn hoá có ảnh hưởng to lớn và sâu sắc nhất đến hành vi của người tiêu dùng. Bao gồm: nền văn hoá, nhánh văn hoá và địa vị xã hội của người tiêu dùng.a, Văn hoáVăn hóa là nguyên nhân đầu tiên, cơ bản quyết định nhu cầu và hành vi của con người. Hành vi của con người là một sự vật chủ yếu được tiếp thu từ bên ngoài. Ví dụ: đứa trẻ học tập được những điều cơ bản về giá trị, sự cảm thụ, sự ưa thích, tác phong và hành vi đặc trưng cho gia đình của mình và những thể chế cơ bản của xã hội.Tham khảo thêm các dịch vụ khác của Luận Văn 1080:+ viết luận anh văn + viet thue luan vanb, Nhánh văn hoáBất kỳ nền văn hoá nào cũng bao gồm những bộ phận cấu thành nhỏ hơn hay nhánh văn hoá đem lại cho các thành viên của mình khả năng hoà đồng và giao tiếp cụ thể hơn với những người giống mình. Nhánh văn hoá bao gồm: các dân tộc, các tôn giáo, các nhóm chủng tộc và các vùng địa lý. Nhiều nhánh văn hoá tạo nên những khúc thị trường quan trọng và những người làm marketing thường thiết kế các sản phẩm và chương trình marketing theo nhu cầu của các nhánh văn hoá.c, Địa vị xã hộiLà những bộ phận tương đối ổn định trong khuôn khổ xã hội, được sắp xếp theo thứ bậc đẳng cấp và được đặc trưng bởi những quan điểm quan trọng, lợi ích và hành vi đạo đức giống nhau ở các thành viên.2. Những yếu tố mang tính chất xã hộiNhững yếu tố mang tính chất xã hội như những nhóm, gia đình, vai trò xã hội và các quy chế xã hội chuẩn mực là một trong Các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi của người tiêu dùng có mức độ ảnh hưởng khá cao đến hành vi mua của người tiêu dùng.a, Các nhóm tiêu biểuRất nhiều nhóm chuẩn mực có ảnh hưởng đặc biệt mạnh mẽ đối với hành vi của con người.Các nhóm tiêu biểu là những nhóm có ảnh hưởng trực tiếp (tức là khi tiếp xúc trực tiếp) hay gián tiếp đến thái độ hay hành vi của con người.– Những nhóm có ảnh hưởng trực tiếp đến con người được gọi là những tập thể các thành viên. Đó là những nhóm mà cá nhân nằm trong đó và tác động qua lại với chúng– Cá nhân cũng chịu ảnh hưởng của cả những nhóm mà nó không phải là thành viên.Các nhóm tiêu biểu ảnh hưởng đến mọi người ít nhất là theo ba cách:– Thứ nhất, cá nhân đụng chạm với những biểu hiện hành vi và lối sống mới đối với nó.– Thứ hai, nhóm tác động đến thái độ của cá nhân và quan niệm của nó về bản thân mình.– Thứ ba, nhóm thúc ép cá nhân ưng thuận, do đó có thể ảnh hưởng đến việc cá nhân lựa chọn hàng hóa và nhãn hiệu cụ thể.b, Gia đìnhLà một tổ chức tiêu dùng quan trọng nhất trong xã hội. Các thành viên trong gia đình có thể ảnh hưởng mạnh mẽ đến hành vi của người mua.c, Vai trò và địa vịCá nhân là một thành viên của rất nhiều nhóm trong xã hội, vị trí của mỗi người trong mỗi nhóm có thể xác định căn cứ vào vai trò và địa vị của người đó. Người tiêu dùng thường chọn các sản phẩm nói lên vai trò và địa vị của họ.3. Các yếu tố mang tính chất cá nhânNhững nét đặc trưng bề ngoài của con người đặc biệt là tuổi tác giai đoạn của chu trình đời sống gia đình, nghề nghiệp, tình trạng kinh tế, kiểu nhân cách và ý niệm về bản thân.Tuổi tác và giai đoạn của chu trình đời sống gia đìnhCùng với tuổi tác cũng diễn ra những thay đổi trong chủng loại và danh mục những mặt hàng và dịch vụ được mua sắm.a, Nghề nghiệpNghề nghiệp có ảnh hưởng nhất định đến tính chất của hàng hoá và dịch vụ được chọn mua. Nhà hoạt động thị trường cố gắng tách ra những nhóm khách hàng nhập theo nghề nghiệp quan tâm nhiều đến hàng hoá và dịch vụ của mình. Công ty có thể chuyên sản xuất những mặt hàng cần thiết cho một nhóm nghề nghiệp cụ thể nào đó.b, Tình trạng kinh tếTình trạng kinh tế của cá nhân có ảnh hưởng rất lớn đến cách lựa chọn hàng hoá của họ. Nó được xác định căn cứ vào phần chi trong thu nhập, phần tiết kiệm và phần có khả năng vay và những quan điểm chi đối lập với tích luỹ.c, Lối sốngNhững người thuộc cùng một nhánh văn hoá, cùng một giai tầng xã hội và thậm chí cùng một nghề nghiệp có thể có lối sống hoàn toàn khác nhau.Lối sống là những hình thức tồn tại bền vững của con người trong thế giới được thể hiện ra trong hoạt động, sự quan tâm và niềm tin của nó. Lối sống phác hoạ bức chân dung toàn diện của con người trong sự tác động qua lại giữa nó với môi trường xung quanh.d, Kiểu nhân cách và ý niệm về bản thânMỗi người đều có một kiểu nhân cách hết sức đặc thù, có ảnh hưởng đến hành vi mua hàng của người đó.Kiểu nhân cách là một tập hợp những đặc điểm tâm lý của con người đảm bảo sự phản ứng đáp lại môi trường xung quanh của anh ta có trình tự tương đối và ổn định.Biết kiểu nhân cách có thể có ích khi phân tích hành vi của người tiêu dùng nếu tồn tại mối liên hệ nhất định giữa kiểu nhân cách và việc lựa chọn hàng hoá hay nhãn hiệu.4. Các yếu tố có tính chất tâm lýCác yếu tố có tính chất tâm lý cũng nằm trong các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi của người tiêu dùng có mức ảnh hưởng lớn đến hành vi người mua.Hành vi lựa chọn mua hàng của cá thể cũng chịu ảnh hưởng của bốn yếu tố cơ bản có tính chất tâm lý sau: động cơ, tri giác, lĩnh hội, niềm tin và thái độ.a, Động cơĐộng cơ là nhu cầu đã trở thành khẩn thiết đến mức độ buộc con người phải tìm cách và phương thức thoả mãn nó.Tuỳ theo mức độ quan trọng các nhu cầu được sắp xếp theo thứ tự như sau: những nhu cầu sinh lý, những nhu cầu tự vệ, những nhu cầu xã hội, những nhu cầu được tôn trọng và những nhu cầu tự khẳng định mình.Con người sẽ cố gắng thoả mãn trước hết là những nhu cầu quan trọng nhất. Khi mà nó đáp ứng được một nhu cầu quan trọng nào đó thì lập tức trong một thời gian nào đó không còn là động cơ thúc đẩy nữa. Đồng thời lại xuất hiện sự thôi thúc thoả mãn nhu cầu tiếp sau được xếp theo mức độ quan trọng.b, Tri giácTri giác là một quá trình thông qua đó cá thể tuyển chọn, tổ chức và giải thích thông tin đến để tạo ra một bức tranh có ý nghĩa về thế giới xung quanh.Tri giác không chỉ phụ thuộc vào tính chất của các tác nhân kích thích vật lý, mà còn phụ thuộc vào mối quan hệ của các tác nhân kích thích đó với môi trường xung quanh và với cá thể. Con người có thể có những phản ứng khác nhau đối với cùng một tác nhân kích thích do sự tri giác có chọn lọc, sự bóp méo có chọn lọc và sự ghi nhớ có chọn lọc.c, Lĩnh hộiCon người lĩnh hội tri thức trong quá trình hoạt động. Lĩnh hội là những biến đổi nhất định diễn ra trong hành vi của cá thể dưới ảnh hưởng của kinh nghiệm mà họ tích luỹ được.Hành vi của con người chủ yếu là do tự mình tiếp nhận được, tức là lĩnh hội. Các nhà lý luận cho rằng lĩnh hội là kết quả của sự tác động qua lại của sự thôi thúc, các tác nhân kích thích mạnh và yếu, những phản ứng đáp lại và sự củng cố.
  7. 1. Xuất khẩu là gì?Xuất khẩu là việc bán hàng hoá và dịch vụ cho một quốc gia khác trên cơ sở dùng tiền làm phương tiện thanh toán. Tiền tệ ở đây có thể là ngoại tệ đối với mỗi quốc gia hay đối với cả hai quốc gia.Cơ sở của hoạt động xuất khẩu là hoạt động mua bán hàng hoá và trao đổi hàng hoá. Khi xuất khẩu phát triển và việc trao đổi hàng hoá giữa các quốc gia có lợi, hoạt động này mở rộng phạm vi ra ngoài biên giới quốc gia hoặc khu chế xuất trong nước. Mục đích của hoạt động xuất khẩu là khai thác lợi thế của từng vùng, từng quốc gia trong phân phối lao động quốc tế. Hoạt động xuất khẩu phát triển cả về chiều rộng, cả về chiều sâu.Tham khảo thêm dịch vụ khác của chúng tôi: + viet thue luan van + viết thuê luận văn tiếng anh Hoạt động xuất khẩu diễn ra trên mọi lĩnh vực, trong mọi điều kiện kinh tế từ xuất khẩu hàng hoá tiêu dùng cho đến tư liệu sản xuất, máy móc thiết bị công nghệ cao. Tất cả hoạt động trao đổi đó đều nhằm mục tiêu đem lại lợi ích cho các quốc gia tham gia vào hoạt động xuất khẩu.Hoạt động xuất khẩu diễn ra trên phạm vi rộng cả về không gian lẫn thời gian. Nó có thể chỉ diễn ra trong thời gian ngắn, song nó cũng có thể kéo dài hàng năm, nó có thể diền ra trên phạm vi quốc gia hay nhiều quốc gia khác nhau.2. Các hình thức xuất khẩu chủ yếu hiện nayVới mục tiêu đa dạng hoá các hình thức kinh doanh, chiết khấu nhằm phân tán và chia rẽ rủi ro, các doanh nghiệp thương mại có thể lựa chọn nhiều hình thức xuất khẩu.+ Xuất khẩu trực tiếp:Là việc xuất khẩu các loại hàng hoá và dịch vụ do chính doanh nghiệp sản xuất ra hoăc thu mua từ các đơn vị sản xuất trong nước tới khách hàng ngoài thông qua các tổ chức của mình. Xuất khẩu trực tiếp có thể làm tăng thêm rủi ro trong kinh doanh song lại có những ưu điểm nổi bật là giảm bớt các chi phí trung gian do đó tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp, có thể liên hệ trực tiếp và đều đặn với khách hàng và thị trường nước ngoài, biết được nhu cầu của khách hàng và tình hình bán hàng ở đó nên có thể thay đổi sản phẩm và những điều kiện bán hàng trong điều kiện cần thiết.+ Xuất khẩu gia công uỷ thác.Đây là hình thức kinh doanh mà trong đó đơn vị ngoại thương đứng ra nhập nguyên liệu hoặc bán thành phẩm do xí nghiệp gia công sau đó thu hồi thành phẩm để xuất cho bên nước ngoài. Đơn vị được hưởng phí uỷ thác theo thoả thuận với các xí nghiệp sản xuất. Hình thức này có ưu điểm là doanh nghiệp thương mại không cần bỏ vốn vào kinh doanh nhưng vẫn thu được lợi nhuận, rủi ró it hơn, việc thanh toán chắc chắn hơn. Tuy nhiên đòi hỏi phải tiến hành nhiều công việc, nhiều thủ tục nhập khẩu, các cán bộ kinh doanh phải có kinh nghiệm và nghiệp vụ cả trong quá trình giám sát và kiểm tra việc gia công.+ Xuất khẩu uỷ thác.Đây là hình thức kinh doanh trong đó đơn vị ngoại thương đóng vai trò là người trung gian thay cho các đơn vị sản xuất điều hành kí kết hoạt động mua bán ngoại thương, tiến hành các thủ tục cần thiết để xuất khẩu hàng hoá cho nhà sản xuất và qua đó thu được một số tiền nhất định. Ưu điểm của hình thức này là mức độ rủi ro thấp, đặc biệt là không cần vốn vào kinh doanh, tạo được việc làm cho người lao động đồng thời cũng thu được một khoản lợi nhuận đáng kể. Ngoài ra trách nhiệm trong việc tranh chấp lại thuộc về người sản xuất.
  8. Bài viết này sẽ chia sẻ đến bạn những đề tài luận văn hay nhất, mới nhất dành cho chuyên ngành Quản trị Marketing. Nếu bạn vẫn chưa tìm được đề tài cho bài luận của mình, hãy tham khảo ngay nhé!Nếu bạn đang gặp khó khăn trong quá trình là luận văn, hãy tham khảo các dịch vụ của chúng tôi:+ làm thuê luận văn+ nhận làm luận văn tiếng anh Luận văn Quản trị Marketing ngân hàng đối với khách hàng doanh nghiệp tại ngân hàng ngoại thương Việt Nam chi nhánh Thành phố Hồ Chí Minh Luận văn Hoàn thiện công tác quản trị marketing tại Công ty Cổ phần Đầu tư sản xuất thương mại S.K.Y Luận văn Hoàn thiện quản lý Marketing các sản phẩm về bể bơi thông minh tại công ty cổ phần công nghệ bể bơi thông minh Intelpool Luận văn Quản trị Marketing trong khách sạn Cap Saint Jacques Hoàn thiện quản lý marketing nhằm thúc đẩy xuất khẩu hàng may mặc sang thị trường EU của Công ty cổ phần may Chiến Thắng Giải pháp để nâng cao việc quản lý kênh phân phối của công ty bánh kẹo Hải Hà Đề tài Chiến lược quản trị marketing của X-Men và Acecook Việt Nam Luận văn Quản trị Marketing ngân hàng đối với khách hàng doanh nghiệp tại ngân hàng ngoại thương Việt Nam chi nhánh Thành phố Hồ Chí Minh Giải pháp marketing cho quản trị kênh phân phối của công ty bảo vệ thực vật Hòa Bình Một số giải pháp trong Marketing, quản lý bán hàng ở công ty cổ phần đầu tư thương mại Trung Sơn Đề tài Thực trạng Marketing và một số giải pháp hoàn thiện chính sách Marketing của công ty CPTM và PTDN- FBS Hà Nội Luận văn Một số giải pháp hoàn thiện công tác marketing nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của Công ty Phát hành sách Phú Thọ Đề tài Định hướng chiến lược Marketing cho khu đô thị Sunrise Đông Kiêu Luận văn Một số giải pháp Marketing nhằm thúc đẩy hoạt động xuất khẩu thủy sản tại Công ty Cổ phần Thủy sản Sài Gòn (Seaprodex Saigon) Luận văn Đề tài Giải pháp Marketing dịch vụ cho quán Highlands Coffee Luận văn Hoàn thiện công tác quản trị marketing tại công ty TNHH thương mại và sản xuất nội thất Hà Vũ Đề tài Những cơ sở lý luận về quản trị hoạt động marketing trong các doanh nghiệp sản xuất sản phẩm nhựa của Việt Nam trong điều kiện cơ chế thị trường Đề tài Xây dựng chiến lược quản trị marketing cho công ty sữa VINAMILK Đề tài Quản trị marketing trong khách sạn Cap Saint Jacques Quản trị marketing trong các doanh nghiệp vừa và nhỏ – Giá và chiến lược giá Đề tài Quản trị marketing của các ngân hàng thương mại quốc doanh tại nước CHDCND Lào Luận văn Quản trị marketing tại công ty cổ phần dệt mùa đông trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế Luận văn Một số giải pháp marketing nhằm thu hút khách hàng tại nhà khách Hải Quân Khóa luận Một số giải pháp marketing nhằm thu hút khách hàng tại nhà khách Hải Quân Báo cáo thực tập Hoạt động marketing công ty TNHH Bách Tuyến
  9. Một bài bài tiểu luận thành công không thể thiếu được một cấu trúc bài tiểu luận đầy đủ và logic. Vì vậy, các bạn hoàn thiện bài tiểu luận đang rất đau đầu không biết bắt đầu từ đâu? Nội dung các chương, tiểu mục cần thực hiện những gì?….Nhưng các bạn không cần phải lo lắng nữa nhé! Bởi vì hôm nay chúng tôi sẽ giới thiệu cho các bạn một cách cụ thể và chi tiết cấu trúc một bài bài tiểu luận hoàn chỉnh.Để xây dựng cấu trúc bài bài tiểu luận hoàn chỉnh, các phần trong bài tiểu luận được trình bày theo thứ tự như thế nào? Cấu trúc 1 bài tiểu luận hoàn chỉnh bao gồm 3 phần: Mở đầu Nội dung Kết thúc Ngoài 3 phần chính,cấu trúc bài tiểu luận phải có: mục lục và tài liệu tham khảo. Nếu trong bài tiểu luận bạn có sử dụng chữ viết tắt hay biểu đồ thì cần phải thêm: danh mục các chữ viết tắt, danh mục bảng – hình vẽ và mục lục.Các dịch vụ có thể xem thêm+ Nhận làm luận văn tốt nghiệp + Dịch vụ viết luận văn thuê Nội dung chi tiết các phần trong cấu trúc bài tiểu luận mà bạn cần phải thực hiện.Thứ nhất, trong phần mở đầu các bạn phải thực hiện những nội dung sau: Lý do chọn đề tài hoặc tính cấp thiết của đề tài Trong phần này bạn phải trả lời được câu hỏi: Tại sao bạn lại chọn đề tài này để nghiên cứu? Đề tài này sẽ đáp ứng được những yêu cầu nào của thực tiễn xã hội đặt ra? Lịch sử nghiên cứu đề tài Để thực hiện tốt phần này, bạn cũng phải trả lời được những câu hỏi: Từ trước đến nay đã có những công trình nào, những tác giả nào nghiên cứu những vấn đề liên quan đến để tài này chưa? Các công trình ấy đạt được những thành tựu gì và còn vấn đề gì chưa nghiên cứu? Từ đó khẳng định tính cần thiết và cấp thiết của đề tài. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu Bạn cần xác định được mục đích nghiên cứu của đề tài và nhiệm vụ của bạn cần làm gì để nghiên cứu đề tài. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu đề tài này là ai? Cái gì? Phạm vi: phạm vi không gian, phạm vi thời gian. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu Cơ sở lý luận nào để bạn dựa vào đó thực hiện đề tài? Khi bạn trình bày phương pháp nghiên cứu cần phải chỉ rõ các phương pháp nghiên cứu chung của các khoa học xã hội nhân văn và phương pháp đặc thù cho một ngành khoa học cụ thể. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài Đóng góp đề tài trong cơ sở lý luận và trong thực tiễn có thể áp dụng được. Cấu trúc tiểu luận Bạn cần tóm lược cấu trúc tiểu luận và trình bày thứ tự một cách ngắn gọn. Thứ hai, phần nội dung – phần quan trọng nhất của cấu trúc bài tiểu luận hoàn chỉnh. Tùy thuộc vào tính chất và quy mô về nội dung của đề tài mà có thể phân chia thành các phần, chương, mục, tiểu mục. Thông thường một cấu trúc tiểu luận hoàn chỉnh chia làm 3 chương: chương 1 là chương lý thuyết chung, chương 2 là thực trạng và chương 3 là giải pháp.Phần kết luận. Trong phần này,bạn sẽ tổng hợp một cách ngắn gọn, cô động và khái quát nhất những nội dung đã được trình bày ở các chương trước đó.
  10. Marketing khách sạn là gì? Marketing khách sạn là gì? Marketing khách sạn là hoạt động marketing nhằm đáp ứng nhu cầu của khách hàng trong lĩnh vực khách sạn. Khách sạn là một ngành dịch vụ mang tính đặc thù vậy nên hoạt động marketing khách sạn có những đặc điểm và xu thế riêng. Việc xây dựng chiến lược marketing khách sạn cũng sẽ cần có sự sáng tạo và những ý tưởng độc đáo hơn nhiều so với các loại hình marketing khác. Để được chúng tôi hỗ trợ tốt hơn bạn vui lòng tham khảo những dịch vụ sau đây của chúng tôi: + Dịch vụ viết báo cáo + Dịch vụ viết chuyên đề thuê Những xu hướng marketing hot nhất 2018 – Sử dụng Email Marketing Ngày nay Email Marketing không còn là công cụ quá xa lạ nữa, đã có rất nhiều lĩnh vực, ngành nghề sử dụng và rất hiệu quả. Chi phí dành cho Email markting rẻ hơn so với nhiều công cụ khác nhưng lại có độ phủ và tác động rất lớn tới khách hàng mục tiêu của bạn. Email là công cụ rất hữu ích, nó cho phép bạn marketing trực tiếp với khách hàng, đặc biệt là khách hàng cũ và khách hàng tiềm năng trong và sau chuyến đi của họ. Bạn có thể sử dụng công cụ này để gửi những thông tin cần thiết về khách sạn, địa phương của bạn. Đây chính là cơ hội để khách hàng quay trở lại với dịch vụ khách sạn của bạn. Để sử dụng email marketing và sử dụng đạt hiệu quả cao nhất, bạn cần có một chiến lược gửi mail được chuẩn bị kĩ càng, cả về thời gian gửi lẫn nội dung muốn truyền tải. – Inphographic Bên cạnh Email Marketing thì Inphographic hiện đang giữ một vai trò vô cùng quan trọng trong việc tìm kiếm khách hàng mới và giữ chân khách hàng cũ của nhiều doanh nghiệp. Khách hàng ngày càng có xu hướng “thích xem hơn đọc”. Vì vậy, việc tóm tắt những thông tin cần thiết trên infographic vừa để tiết kiệm thời gian vừa để mang lại sự tiện lợi cho Khách hàng. – Booking online Hãy bổ sung nút booking ngay lập tức nếu website của bạn chưa có. Đây hoàn toàn là lời nhắc nhở hữu ích cho bạn! Bởi vì, có đến 98% khách hàng vừa lòng khi xem các dịch vụ trên website sẽ có xu hướng đặt phòng ngay lập tức. Vì vậy, nếu website của bạn có nút booking thì không phải là “cơ hội bán dịch vụ sẽ cao hơn?”. Điều này đã được kiểm chứng và đạt hiểu quả rất cao, doanh số tăng gấp đôi, thậm chí còn hơn nữa.
  11. 1. Hành vi người tiêu dùng trong marketing là gì? Mục đích quan trọng của nghiên cứu Marketing dịch vụ là hiểu rõ quá trình và các yếu tố cơ bản ảnh hưởng đến quá trình quyết định mua của khách hàng. Đó là các yếu tố sau: Ai tham gia vào quá trình quyết định mua DV? Quá trình quyết định mua chiếm bao nhiêu thời gian? Những DV cạnh tranh nào mà khách hàng có thể chọn mua? Tầm quan trọng tương đối do người quyết định mua gán cho mỗi yếu tố của DV được cung cấp? Nguồn thông tin được dùng để đánh giá các DV cạnh tranh? Khi khách hàng nhận biết nhu cầu (do các yếu tố bên trong và cả bên ngoài kích thích) và sự thôi thúc của nhu cầu đủ lớn, họ sẽ tìm kiếm thông tin về DV có thể đáp ứng nhu cầu đó. Tiếp đó là việc đánh giá các phương án thay thế khác nhau có thể đáp ứng nhu cầu. Quyết định mua là kết quả của sự tương tác giữa người quyết định cuối cũng và các yếu tố ảnh hưởng khác nhau. Cuối cùng, sau khi mua và tiêu dùng, người tiêu dùng hình thành những cảm nghĩ, nhận xét, đánh giá về DV đã mua. Điều này sẽ có ảnh hưởng đến các lần mua sau. Trong thực tế, quá trình quyết định mua DV có thể là một quá trình phức tạp lặp đi lặp lại, chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố và tiêu chuẩn quyết định khác nhau. 2. Nghiên cứu “nhóm ra quyết định” Có rất ít các quyết định mua DV là do một người đơn độc thực hiện, đặc biệt là khách hàng tổ chức, doanh nghiệp. Thông thường, có những người khác trong công ty tham gia vào quá trình mua và có ảnh hưởng đến quyết định mua cuối cùng. Tất cả những người tham gia vào quyết định mua được gọi là “Nhóm ra quyết định”. Do vậy, bên bán cần nhận biết và hiểu rõ “Nhóm ra quyết định” để thuyết phục họ. Khi đó, doanh nghiệp có thể soạn thảo các thông điệp phù hợp để thuyết phục mua. Sau đây là một số vai mà những người trong “Nhóm quyết định” có thể nhận: – Người ảnh hưởng: Là người hay nhóm người có ảnh hưởng đến quá trình quyết định mua. Có thể gọi đó là nhóm tham khảo khi quyết định mua. Đó là gia đình, bạn thân, hàng xóm, đồng nghiệp. Thứ hai là các tổ chức tôn giáo, hiệp hội, câu lạc bộ…). – Người gác cổng: Là người chọn lọc các thông tin chào hàng đến với người quyết định mua. Đó là cô thư ký chặn các cuộc gọi của các đại diện bán hàng đến giám đốc. Trong nhiều tổ chức thật khó xác định ai là người gác cổng. Trong các tổ chức lớn, nhất là các tổ chức trong lĩnh vực công cộng việc mua hàng hoá DV phải theo thủ tục đấu thầu. Do vậy, nếu nhà cung cấp DV bị loại ra khỏi danh sách đấu thầu thì hết cơ hội bán. – Người sử dụng một DV có thể không phải là người quyết định mua. Tuy nhiên, cũng cần biết ảnh hưởng của họ đến quyết định mua. – Người ra quyết định mua là người (nhóm người) quyết định cuối cùng để mua (họ có thể không phải là người trực tiếp thực hiện việc mua mà giao phó cho người khác mua). Đối với nhiều DV cho hộ gia đình khó mà xác định ai trong gia đình là người ra quyết định. Điểu nay xem ra phụ thuộc vào nền văn hoá, vào vai trò kinh tế của các thành viên trong gia đình. Đối với các tổ chức cũng vậy, việc xác định ai là người quyết định mua hay có ảnh hưởng chính tới quyết định mua cũng là một vấn đề nan giải. Tất cả những vấn đề chưa có câu trả lời trên đây cần được nghiên cứu cụ thể. Trong một số trường hợp, việc đặt hàng một DV có thể chỉ là một nhiệm vụ thường ngày và được giao cho một cá nhân. Chẳng hạn, đối với một công ty, các loại DV giá trị thấp và không mới có thể được giao cho một người mua quyết định. Ví dụ việc mua báo được giao cho văn thư làm. Tuy nhiên, khi mua mới hoặc mua có đổi mới thì đơn vị quyết định mua gồm nhiều hơn một người. Nếu bạn đang gặp khó khăn trong quá trình làm luận văn, tiểu luận hay luận án hãy tham khảo các dịch vụ của chúng tôi như sau: + Dịch vụ làm assignment thuê + Nhận viết courcework
  12. Bài viết này sẽ chia sẻ đến bạn mẫu Lời mở đầu hay cho đề dài “Đánh giá chất lượng dịch vụ khách sạn”. Nếu bạn đang có ý định làm bài luận về lĩnh vực này, hãy tham khảo nhé! Tham khảo thêm các nội dung tài liệu khác: + khái niệm marketing mix + hành vi người tiêu dùng trong marketing 1. Tính cấp thiết của đề tài Green Plaza là một trong những khách sạn 4 sao đầu tiên tại thành phố Đà Nẵng. Tuy nhiên hiện nay, cùng với sự phát triển của ngành du lịch tại Đà Nẵng, hệ thống khách sạn, khu nghỉ mát trên địa bàn thành phố được đầu tư xây dựng ngày càng nhiều. Đặc biệt trong số các khách sạn mới mở trong những năm gần đây số lượng khách sạn 3 và 4 sao chiếm phần lớn. Chính lẽ đó, cạnh tranh tại phân khúc này ngày càng trở nên khốc liệt. Khách hàng ngày càng có nhiều sự lựa chọn, vì vậy họ càng trở nên khó tính và cân nhắc kỹ lưỡng hơn trước khi quyết định đặt phòng. Trước tình hình đó, khách sạn Green Plaza gặp những khó khăn lớn trong việc giữ thị phần và thu hút khách hàng. Vấn đề về chất lượng dịch vụ được đặt ra với ban quản trị khách sạn. Làm sao để đảm bảo tiêu chuẩn chất lượng phù hợp nhất với khách hàng mục tiêu trong khi vẫn tiết kiệm được chi phí của doanh nghiệp là một thách thức. Vấn đề chỉ được giải quyết trên cơ sở hoàn thiện chất lượng dịch vụ. Đây là vấn đề cấp thiết và sống còn đối với khách sạn Green Plaza Đà Nẵng trong thời gian tới. Xuất phát từ nhận thức đó tác giả đã chọn đề tài “Quản trị chất lượng dịch vụ tại khách sạn Green Plaza Đà Nẵng”. 2. Mục tiêu nghiên cứu Hệ thống hoá những cơ sở lý luận căn bản cho công tác quản trị chất lượng dịch vụ tại khách sạn. Phân tích và làm rõ thực trạng công tác quản trị chất lượng dịch vụ tại khách sạn Green Plaza Đà Nẵng trong thời gian qua. Đề ra giải pháp quản trị chất lượng dịch vụ phù hợp với khách sạn Green Plaza trên cơ sở định hướng khách hàng, từ đó nâng cao khả năng cạnh tranh của khách sạn trên thị trường. 3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu – Đối tượng nghiên cứu: Các vấn đề lý luận và thực tiễn có liên quan đến công tác quản trị chất lượng dịch vụ tại khách sạn Green Plaza Đà Nẵng. – Phạm vi nghiên cứu: + Về không gian: Luận văn chỉ tập trung nghiên cứu các vấn đề liên quan đến công tác quản trị chất lượng dịch vụ tại khách sạn Green Plaza Đà Nẵng + Về thời gian: Số liệu được thu thập trong 3 năm từ năm 2012-2014. 4. Phương pháp nghiên cứu Đề tài sử dụng phương pháp thống kê mô tả, phân tích, so sánh và tổng hợp. Về thu thập thông tin, đề tài sử dụng dữ liệu thứ cấp từ khách sạn và dữ liệu sơ cấp từ điều tra hiện trường làm cơ sở cho việc đưa ra các giải pháp. Nguồn: https://luanvan1080.com/loi-mo-dau-hay-cho-de-tai-danh-gia-chat-luong-dich-vu-khach-san.html