limdim

Thành Viên Phố
  • Số bài viết

    303
  • Tham gia

  • Lần cuối online

  • Xác Thực

    100%
Nhạc yêu thích của tôi

Điểm ưu tú

246 Excellent

About limdim

  • Rank

Thông tin cá nhân

  • Họ và tên
    lê bá minh
  • Điện thoại
    0913070333
  • Địa chỉ
    30 Phạm Hùng
  • Thành Phố
    Hà Nội
  • Giới Tính
    Nam
  1. Một mùa Xuân nữa lại về, mùa Xuân thứ 40 của đất nước Việt Nam thống nhất. Bỗng dưng ngân lên tiếng hát Mùa Xuân đầu tiên của cố nhạc sĩ Văn Cao. Bao giờ cũng thế, điệu valse nhẹ nhàng, da diết này làm lòng ta yên tĩnh, ấm áp lạ thường. Và những kỷ niệm về cố nhạc sĩ Văn Cao trong căn gác ở số 108 Yết Kiêu, Hà Nội lại hiện về trong tôi... Rồi dặt dìu mùa Xuân theo én về Mùa bình thường mùa vui nay đã về Mùa Xuân mơ ước ấy đang đến đầu tiên... Có những bản hùng ca được viết vào những ngày Đại thắng mùa Xuân 1975. Đó là những bài ca hùng tráng, reo vui. Tâm trạng chung của cả đất nước lúc ấy là hân hoan, là rộn ràng... Nhưng có lẽ Mùa xuân đầu tiên đến với đất nước mình trong niềm vui quá lớn khiến Văn Cao lắng lại, để cất lên nỗi khát vọng, niềm mơ ước cháy lòng sau 21 năm đất nước bị chia cắt... 21 năm ấy, biết bao nhiêu cuộc đời dang dở, bao lứa đôi chịu xa cách chia ly... Hiền Lương - Bến Hải như lưỡi dao chém ngang khúc ruột Tổ quốc. Để có ngày đoàn tụ, cả dân tộc đã lên đường, bước vào cuộc trường chinh vĩ đại và khoảng thời gian hai thập kỷ ấy có không biết bao nhiêu mất mát hy sinh... Và ngày toàn thắng đã đến. Niềm vui và nỗi đau ùa về, khiến lòng ta bâng khuâng... Còn nhớ mùa Đông năm 1992 tôi đến thăm nhạc sĩ Văn Cao tại số nhà 108 phố Yết Kiêu. Cho đến lúc ấy, bài hát Mùa Xuân đầu tiên vẫn chưa được hát rộng rãi. Bên chén rượu trắng, dáng gầy gò nhưng đôi mắt thì rất sáng, Văn Cao kể: Tôi nghe Trịnh Công Sơn kể rằng bên Mỹ người ta đã tấu Thiên thai của tôi trước khi bay vào vũ trụ. Âm nhạc với tôi, tôi coi là lẽ sống, nhưng 20 năm không viết được gì. Có mấy bản thì thấy... bình thường vì vậy tôi chưa muốn công bố. Duy chỉ bàiMùa Xuân đầu tiên tôi viết vào lúc lòng quá xúc động trước một mùa Xuân kỳ diệu nhất đối với dân tộc. Đó là khúc hoan ca mừng ngày Bắc Nam sum họp. Cho người thân về với người thân... Với tâm trạng đó tôi viết bài hát này bằng một điệu thức âm hưởng valse nhẹ nhàng, thiết tha, tình cảm. Chính vì thế mà bản nhạc chưa được đón nhận vào thời điểm ấy. Mọi người đang reo ca đang tưng bừng chào đón ngày mới về trên Tổ quốc, còn điệu valse xướng lên lúc ấy cỏ vẻ... nhẹ nhàng quá! Rồi dặt dìu mùa Xuân theo én về Mùa bình thường mùa vui nay đã về Mùa Xuân mơ ước ấy đang đến đầu tiên... Nào ngờ, như ông nói, Mùa Xuân đầu tiên có số phận thật đặc biệt. Nó lưu lạc không biết bằng con đường nào sang tận nước Nga xa xôi, được xuất bản ở đó, trước khi được cất lên, được phổ biến tại Việt Nam rất lâu. Nhà văn Triệu Bôn từng kể người cháu của mình thời làm ăn ở Nga vẫn thường nghe Mùa Xuân đầu tiên. Chàng trai ấy bảo, nghe nhạc Văn Cao bởi: “... thấy lòng mình sạch sẽ trở lại, thấy quê hương đất nước như ở bên mình...” Gặp Ánh Tuyết trước đêm nhạc Văn Cao tại Hà Nội năm trước, ca sĩ kể: “Từ năm 1983, khi đêm nhạc đầu tiên của Văn Cao được tổ chức tại TP.HCM, bản Mùa Xuân đầu tiên vẫn chưa được hát. Sau đó khoảng năm 1990 gì đó, có ca sĩ Thanh Thúy và vài người hát nhưng chưa được đón nhận rộng rãi... Chỉ sau khi tác giả qua đời, năm 1995, Mùa Xuân đầu tiên mới được cất lên khắp nơi. Phải chăng những tác phẩm nghệ thuật lớn thường có số phận lạ kỳ như vậy?! Mùa Xuân năm 1995 là mùa xuân cuối cùng của tác giả Mùa Xuân đầu tiên. Lúc tôi lại thăm, thấy ông mệt nhiều và đến tháng Bảy thì ông về Thiên Thai. Ngày ông mất, tôi viếng ông bằng mấy câu thơ nhỏ: Ông ngồi đó như nốt lặng/ Rượu ngày đôi chén đầy vơi/ Nghĩ về sự sống cái chết (*) /Tóc râu ông trắng mây trời. Thi hài ông quàn tại Ngôi nhà Văn nghệ Việt Nam số 51 Trần Hưng Đạo - Hà Nội. Hoa nở trong thành phố dịp đó không đủ để mọi người mang đến viếng người nhạc sĩ tài danh. Vậy mà đã gần 20 năm... Văn Cao đã đặt giữa cuộc đời một điệu valse nhẹ nhàng, tình cảm... Nhưng thời ấy đất nước bộn bề, đời sống còn bao điều phải lo, phải làm, vì vậy mấy ai bình tâm đón nhận sự lắng sâu thánh thiện của tâm hồn tác giả qua một khúc hát gợi bâng khuâng ngày hòa bình... Ông đã có tâm cảm xa hơn, khi chạm đến những xót xa, thấm thía của một dân tộc bước qua đau thương, mất mát. Mùa én về báo hiệu một không gian thanh bình, nhưng cái hình ảnh khói bay trên sông, gà gáy trưa bên sông làm mùa Xuân có gì man mác... Và trong giờ phút lịch sử ấy thấy có gì đó bâng khuâng rạo rực trong lòng: “Một trưa nắng thôi hôm nay mênh mông”... Về sự ra đời của nhạc phẩm Mùa Xuân đầu tiên, anh Văn Thao - con trai nhạc sĩ - kể: “Lúc tôi trở về nhà, vừa lên mấy bậc thang bỗng sững sờ với tiếng đàn dương cầm vọng ra từ căn gác nhỏ số 108 Yết Kiêu. Đó là một điệu valse mượt mà, dìu dặt. Văn Cao ngồi bên đàn dương cầm. Đôi bàn tay khô gầy của ông đang lướt trên những phím. Tiếng đàn ấm áp, ngọt ngào như không muốn xao động căn phòng. Sau 20 năm Văn Cao làm “nốt lặng” giữa cuộc đời... “Cha viết bài nầy mừng đất nước thống nhất, nhân dân mình đoàn tụ” - ông nhẹ nhàng cất lời với tôi. Cha tôi viết bản nhạc ấy trong tâm thức an vui sau ngày đất nước thôi chinh chiến 30 năm máu lửa, khi đất nước hòa bình, Tổ quốc sum họp. Trước đó, báo Sài Gòn Giải phóng cho người đến đặt ông bản nhạc mừng hòa bình và cuộc gặp gỡ ấy đã cho ta tuyệt tácMùa Xuân đầu tiên...” Nhà thơ Thanh Thảo viết: “Cả một dòng sông vui, nhưng không trào cuộn ào ào, mà như lắng lại, nghe kỹ thấy những lượn sóng đang run run, những lượn sóng như nhắn nhủ cái gì, như báo trước một điều gì”.Thời gian đã trả lại giá trị cho nhiều tác phẩm, trong đó có Mùa xuân đầu tiên của Văn Cao. Và hôm nay giai điệu dìu dặt theo đàn chim én bay trong bài hát vẫn làm ấm lòng người khi Xuân về. Có những giai điệu đẹp đến mơ hồ. Điệu valse sang trọng, nhẹ nhàng như hơi thở mùa Xuân, nhưng ta cảm được bên trong sự tươi vui ấy chứa đầy bâng khuâng, thương nhớ da diết: Từ đây người biết quê người Từ đây người biết thương người Từ đây người biết yêu người Bâng khuâng và rạo rực lắm, lòng người Việt trước mùa Xuân đầu tiên. Bây giờ thì giai điệu ấy đang làm xao xuyến lòng ta... Ôi khúc ca của hòa bình và đoàn tụ. Văn Cao đã đi xa 20 năm và tôi tin khúc hoan ca ấy, cũng như những tuyệt khúc khác của ông mãi ở lại với người Việt... https://www.youtube.com/watch?v=pizC-xHYjSQ Tân Linh Thể thao & Văn hóa Xuân Ất Mùi
  2. 25/12 ư? Thế thì sau ngày sinh, Chúa sẽ có cơ hội để làm "thay đổi ngoạn mục" nhỉ, bác Bảy? "Sự cùng quẫn cuối cùng của con người, đấy chính là cơ hội của Chúa"
  3. Từ lâu, đời tư của những ngôi sao màn bạc đã trở thành đề tài yêu thích, nếu không muốn nói là chủ lực của giới truyền thông. Khi muốn đánh giá một diễn viên, ta đôi khi vẫn nhắc nhau rằng cần tách biệt, thậm chí là cô lập, sự nghiệp diễn xuất khỏi đời tư của người nghệ sĩ. Với Marlon Brando, điều ấy là bất khả. Marlon Brando, sinh năm 1924 ở Nebraska, là con trai duy nhất trong một gia đình có cha bán hàng và mẹ diễn viên. Bà Brando là một phụ nữ phá cách – hút thuốc, mặc quần dài và lái xe – những điều rất xa lạ với nữ giới đương thời. Có điều, bà lại nghiện rượu và thường xuyên trong tình trạng bất ổn tâm lý. Trong khi đó, di sản lớn nhất Brando cha lưu lại trong tiềm thức đứa con trai là câu nói “Mày rồi chẳng nên cơm cháo gì đâu!” Nỗi hoài nghi năng lực bản thân được gieo mầm từ cha và tâm tính “nổi loạn” cùng thất bại trong việc chăm sóc gia đình của mẹ đã trở thành một hành trang đeo đẳng Marlon Brando suốt đời, từ khi ông đứng trên sân khấu Broadway, đến những năm tháng cuối cùng của một sự nghiệp điện ảnh không thiếu đỉnh cao nhưng cũng nhiều lắm những vực sâu. Brando thành danh từ rất sớm. Ở tuổi hai mươi mốt, anh đã là nam diễn viên triển vọng nhất Broadway. Hai mươi lăm tuổi, Brando bỏ túi đề cử Oscar đầu tiên cho vai Stanley Kowalski trong “A Streetcar Named Desire”. “Stellaa!”, tiếng thét man dại và khắc khoải cuối phim, đã mở tung cánh cửa cho cơn lũ thành công ập đến. Với khán giả, anh mau chóng trở thành biểu tượng của nam tính. Với thế hệ đàn em, anh là thần tượng về tài năng, kẻ khai phá về phương pháp diễn xuất. Với các studio, anh là con gà đẻ trứng vàng. Cả ba vị thế ấy được xác lập trong thời gian kỷ lục: bốn năm, với ba đề cử và một tượng vàng Oscar. Công bằng mà nói thì Marlon sở hữu lợi thế không thể tranh cãi về ngoại hình. Ở tuổi bốn mươi tám, Brando của “Last Tango in Paris” vẫn đẹp trai lồng lộng dù gương mặt đã thấm đẫm phong trần. Vậy thì hãy hình dung ra một Brando của tuổi hai mươi tư, trẻ trung, căng tràn nhựa sống. Nam tính của Brando, hay nói đúng hơn là nam tính mà Hollywood và khán giả đã “dán nhãn” cho Brando kể từ “A Streetcar Named Desire”, là thứ nam tính bản năng, hoang dại, rực lửa màu nguyên thủy và luôn ẩn chứa mầm mống bất phục tùng, nghĩa là hoàn toàn trái ngược với vẻ đẹp lịch lãm truyền thống của Hollywood, của những Clark Gable và Cary Grant, và của người tề danh với Brando hồi ấy là Montgomery Clift. Có lẽ chính khác biệt ấy đã góp phần làm nên sức hấp dẫn càn-quét-tất-thảy của Brando (với ba đời vợ, mười bốn đứa con, Brando ngoài đời quả cũng không thẹn với cái hình mẫu nam tính mà Hollywood đã gán cho mình). Những vai diễn sau “Desire” rất đa dạng nhưng dù vô tình hay hữu ý đều bồi đắp thêm nhiều lớp hào quang khác nhau cho hình tượng Brando theo cùng chiều hướng ấy: Zapata của “Viva Zapata!” (1952) là một người nông dân nổi dậy phản kháng chính quyền độc tài; Marc Anthony trong “Julius Caesar” (1953) từ góc độ nào đó cũng là “kẻ phản nghịch,” kích động quần chúng chống lại đại thế tưởng chừng đã định của Brutus và Cassius; Johnny trong “The Wild One” hiển nhiên là một gã-trai-nổi-loạn, nếu không muốn nói là gã trai nổi loạn ảnh hưởng nhất thập niên 1950; Terry Malloy của “On the Waterfront” (1954, Oscar đầu tiên của Brando) đối đầu với mạng lưới công đoàn mafia và luật im lặng dưới bến tàu; Thiếu tá Gruver trong “Sayonara” (1957) thách thức định kiến hà khắc của Quân đội Mỹ… Có lẽ từ lâu trước khi nhận vai Napoleon (Desirée, 1954), kẻ nổi loạn vĩ đại của Châu Âu thế kỷ 19, Brando đã được vận mệnh chú định sẽ là kẻ nổi loạn vĩ đại của Hollywood thế kỷ XX. Và cuộc nổi loạn đáng kể đầu tiên của Brando đến từ chính cách diễn xuất của anh. Ngay khi Marlon vừa xuất đạo, người ta đã nhận xét rằng, khi mọi diễn viên khác nặng về biểu cảm và đậm chất kịch, thì Marlon “lặng lẽ và thực tế,” nghĩa là hoàn-toàn-mới. Sáu vai diễn đầu tiên của Brando mở đường cho sự phổ biến của trường phái Phương pháp (Method acting) tại Hollywood, đem đến cho nhân vật chiều sâu tâm lý và hiện thực chưa từng có. Brando hiếm khi dễ dàng chấp nhận những gì đạo diễn định nhét vào đầu, biên kịch muốn đặt lên môi mình, khi thấy rằng nó chưa đủ thật. Không ít câu thoại để đời của Malloy, Johnny, hay Corlelone là kiệt tác của ông. Mười năm sau khi Brando qua đời, hậu thế (James Franco, ở một bài viết cho tờ New York Times) nói rằng ông không diễn mà đã sống cuộc đời của nhân vật. Không chỉ vậy, ông còn được coi là cầu nối của hai thế hệ – những người hùng hoàn mỹ như Gary Cooper hay Henry Fonda và những phản anh hùng nội tâm đầy mâu thuẫn như Robert De Niro, Jack Nicholson và Dustin Hoffman. Ngay tác phong trên phim trường của Brando cũng luôn thể hiện sự phá cách, phá cách đến vô kỷ luật: Brando từ chối học thuộc lời thoại, và thường sử dụng card nhắc vở, khi gắn trên tường, khi lủng lẳng trên cổ bạn diễn, để tạo sự “tự nhiên tuyệt đối” cho đài từ của nhân vật. Cũng chính Brando đã khởi đầu cuộc cách mạng trong quan hệ giữa diễn viên với studio. Thay vì đặt bút ký một hợp đồng dài hạn và chịu cho studio đặt đâu diễn viên ngồi đấy, Brando kiên quyết đàm phán từng phim một, giành được sự chủ động chưa từng có trong việc lựa chọn vai diễn. Suốt đời, Brando không ngừng phản kháng sự kiểm soát và thao túng của Hollywood với diễn viên, thậm chí từ chối Oscar dành cho vai diễn Bố già, dù những hành động này đã đem lại cho ông không ít chỉ trích, căm ghét và thậm chí là thù địch. Nhưng di sản của Brando không dừng lại ở đó. Điều thực sự khiến Brando lay động trái tim khán giả là từ mỗi vai diễn của ông, người xem lập tức nhận thấy, song hành với thứ nam tính mạnh mẽ, bạo liệt ấy, là một nội tâm hoang mang và dễ tổn thương. Kowalski dã thú là vậy nhưng lại dựa dẫm vào sự hiện diện của Stella; Zapata anh hùng biết mấy song lại tự ti vì thất học; Malloy ngổ ngáo bỗng chợt nhu mì trước Edie. Nhân vật là của phim, nhưng nỗi đau dường như là của Brando. Mỗi vai diễn của ông thời trẻ là một nỗ lực khắc khoải, kiếm tìm giá trị của bản thân, khẳng định chính mình, phản bác lại lời dè bỉu cay nghiệt của người cha. Brando, đến khi đã đoạt giải Oscar, vẫn không ngừng hoài nghi năng lực, thành tựu của bản thân và giá trị của nghề nghiệp mà mình đeo đuổi: “Diễn xuất, chứ không phải mãi dâm, là nghề nghiệp cổ xưa nhất. Khỉ cũng biết diễn xuất. Khi con thú chồm dậy, đấm ngực, giả vờ tấn công, ấy là nó đang diễn, hy vọng sẽ làm ta sợ hãi”. Sau gần một thập niên huy hoàng, Brando nhanh chóng đánh mất khát vọng và đam mê với điện ảnh. Những năm 60, ông sống khép kín, chấp nhận những bộ phim dưới tầm, chìm trong các cuộc tình ngắn ngủi và hôn nhân thất bại. Cho đến một ngày, Coppola xuất hiện. Với kịch bản “Godfather”. Có lẽ “Godfather” và Brando sinh ra là để cho nhau. Brando cần “Godfather” để tìm lại hào quang đã mất còn “Godfather” cần Brando để trở thành bất hủ. Nhưng rốt cục, “Godfather” chính là lời nguyền định mệnh của Brando. Bố già, kẻ tranh đấu suốt đời, kẻ sẵn sàng làm tất cả vì gia đình, chính là nỗi ám ảnh, là mộng tưởng sâu kín nhất của ông phản chiếu lên màn bạc. Hình ảnh ấy hội tụ tất cả những gì Brando thiếu vắng và tuyệt vọng kiếm tìm cả ở cha và mẹ. Ba cuộc hôn nhân thất bại, đứa con trai phạm tội giết người, đứa con gái tự sát, hố sâu ngăn cách với những người con khác, đó có lẽ là cái giá mà định mệnh buộc Brando phải trả để trở thành người cha vĩ đại nhất của lịch sử điện ảnh, thành “Godfather” của những thế hệ diễn viên hậu bối. Nhưng Brando vẫn chưa dừng lại. Sau vai diễn về người cha mơ ước, ông hóa thân thành chính mình ở “Last Tango in Paris” (1972), tiếp đó là người cha ngoài đời thực trong “Apocalypse Now” (1979). Ở hành trình vô vọng tìm kiếm Jeanne (và kết thúc bằng cái chết) của Paul, chúng ta sẽ thấy thất bại của Brando trong nỗ lực gắn kết với các con. Ở gương mặt điên dại của Đại tá Kurtz, chúng ta gặp cơn ác mộng thời thơ ấu của Brando – người cha đã phó mặc ông cho Học viện Quân sự để rèn giũa thằng bé nên người… Sau nửa đời diễn những vai diễn mà Hollywood viết sẵn cho ông và phong kín tâm tư mình sau nội tâm nhân vật, cuối cùng Brando đã đem đời mình lên màn bạc. “Godfather”, “Tango”, “Apocalypse”, cả ba đã trọn vẹn cuộc hồi sinh kiệt tác của Brando, và biến ông trở thành bất tử. Berlin 17 /11 /2014 NHAM HOA TTVH & ĐÀN ÔNG 110 12/2014
  4. Nghe nhạc phẩm phiêu diêu tình cảm bỏi ca từ giản dị này, em lại nhớ bác và bằng hữu. Em chia sẻ để không thể phôi pha tình cảm nhé:
  5. [Thời sự vừa đưa tin Việt Nam đối diện mất cân bằng giới tính nghiêm trọng, có nguy cơ dư thừa hơn 4 triệu đàn ông. Ở Hà Nội còn tổ chức diễu hành “Chung tay giải quyết mất cân bằng giới tính khi sinh” với thông điệp: Dù bé gái hay bé trai đều có quyền bình đẳng, được tạo cơ hội ngang bằng để phát triển trong suốt cả cuộc đời. Xem ti vi, bà chủ lo quá, nếu không có những biện pháp can thiệp kịp thời, dự tính đến năm 2050 hơn 4 triệu nam giới sẽ bị… ế vợ. Bà chủ nhớ, Tổng cục Dân số từng đề xuất một giải pháp “phân biệt đối xử” để đối phó với sự “lệch pha” giới tính. Các gia đình có con một bề là con gái sẽ được sự hỗ trợ của Nhà nước, được ưu đãi trong việc đáp ứng nhu cầu học tập, bảo hiểm y tế, dạy nghề, việc làm, cơ hội lập nghiệp và phát triển kinh tế gia đình… Nhưng rồi người ta đã quên béng mất. Tư tưởng Nho giáo “Nhất nam viết hữu, thập nữ viết vô”, có một con trai là có con, còn mười con gái vẫn như không con đã ăn sâu vào tâm lý người Việt. Xem ti vi bà thấy trong văn hóa Việt Nam, dù phóng túng như Thị Mầu hay an phận như Thị Kính, dù liều lĩnh như Súy Vân hay xinh đẹp như Thúy Kiều… thì đều bất hạnh cả. Lối suy nghĩ về thân phận đàn bà thành nếp của xã hội rồi, khó thay đổi. Có điều, sinh nở vốn là lẽ tự nhiên, bây giờ với khoa học phát triển mạnh, người ta can thiệp vào tự nhiên thô bạo quá. Thiếu vắng đàn bà thì mọi chuyện thế nào nhỉ? Chẳng cần nói đâu xa, có thể trực quan ngay trong những bữa nhậu của chồng bà với đám bạn. Hà Nội mùa Thu mát mẻ, thứ tiêu thụ nhiều nhất chẳng phải chuối hay cốm gì đâu mà là thịt chó. Nhất là sau mỗi trận mưa là thịt chó bán rào rào. Mà thịt chó mắm tôm thì hợp với đàn ông hơn đàn bà. Có tổ chức quốc tế đứng ra thống kê rằng 5 triệu con chó bị ăn thịt hằng năm ở Việt Nam. Dù trên truyền hình, văn hóa phương Tây kêu gọi dừng ăn thịt chó, nhưng bà chủ vẫn cho rằng đó là thứ đặc sản của đàn ông xứ này. Một con chó không thể địa táng, hỏa táng hay thủy táng như trên phim ảnh làm gì, cứ “khẩu táng” với mắm tôm, lá mơ và riềng thái lát. Nhưng 5 triệu con thì đàn ông ăn nhiều quá. Thời sự cũng đưa tin Việt Nam tiêu thụ 3 tỉ lít bia một năm, chắc để đi kèm với thịt chó. Vốn thói quen nội trợ, tính toán chi li bà chủ nhẩm ra ngay: 90 triệu dân mà uống hết 3 tỉ lít. Vậy trung bình một người uống hết gần 33 lít mỗi năm. Trừ người già cả, trẻ em số phụ nữ không uống được ra, không biết mỗi người đàn ông trưởng thành đã uống bao nhiêu lít bia. Đàn ông mà thiếu đàn bà thì dễ sinh nhậu nhẹt, chắc lúc ấy xã hội cần nhiều bia và thịt chó lắm. Tác hại của sự lắm đàn ông, bà mới nghĩ đến đấy thôi. Còn tình trạng bắt cóc, buôn bán phụ nữ, trẻ em, những bất ổn xã hội xảy ra do những thất vọng về mặt xã hội và tình dục của nam giới… nghĩ sao xuể. (Em chôm chỉa ở đây nhá: http://thethaovanhoa.vn/dien-dan-van-hoa/thieu-vang-dan-ba-n20140930082017409.htm) Remote Thể thao & Văn hóa
  6. Lực sỹ hạng 50kg Suzuki TS bỗng trở nên thật mềm mại bởi bác Lê Linh đã uyển chuyển, khéo léo đưa những hình ảnh chân thực lồng vào... bài hát. Thật thú vị vì một hành động... chưa từng ai làm. Phổ nhạc, phổ thơ, còn đây là phổ hình, nhưng cũng có cái lý của nó, hehe... Em chúc bác sớm tiễn chàng lực sỹ này lên đường nhá!
  7. Dạo trước, chợ đầu mối phía Nam quận Hoàng Mai chưa có khoảng rộng như bây giờ chuyên để bán chim và các loại thức ăn dành cho chim. Một buổi sớm lọ mọ đi chợ đầu mối, khách uống chè kể thế, tự dưng lạc vào một chốn rất nhiều sâu bọ cào cào... Cứ tưởng đồ ăn rẻ cho người, hóa ra đồ ăn đắt cho chim... Gớm, cứ gì vào chợ đầu mối mới thấy, một ông khách khác bảo. Hà Nội thiếu gì chỗ bán cào cào, châu chấu, dế mèn. Đường Kim Ngưu chỗ chợ Mơ tạm hay đoạn phố Hoàng Hoa Thám gần chợ Bưởi, cứ đi qua mà xem. Lâu nay, thực phẩm cho chim phát triển chẳng kém thực phẩm cho người. Người ta chơi chim nhiều lắm. Ngoài mấy cái câu lạc bộ sơn ca họa mi gì đó định kỳ họp nhau uống cà phê nghe chim hót một cách tao nhã thì còn có một số nhóm vẫn họp nhau để khoe chim, ngày càng đông thành viên ở những nhóm này. Thấy bảo nhiều nhà, ông chồng cưng chim cảnh đến nỗi vợ phát ghen. Phát ghen thì có mỗi việc là thò tay vào lồng chim, trong cổ tích Tấm Cám có dạy rồi, vàng ảnh vàng anh, chim không kịp bay là... chết bẹp. Nói chung, từ xưa đến giờ, ứng xử của người với loài chim thật ra vẫn chỉ là nuôi để nghe hót, để buôn bán, để chơi, nuôi để làm thịt và nuôi để bán cho người ta thả lên giời… Mấy cách đó đều phổ biến như nhau. Con người nuôi chim kiểu gì cũng lợi, còn chim bị người nuôi kiểu gì cũng thiệt. Nói thế chẳng có gì ngoa. Qua mùa rằm tháng 7, chẳng ai tính bao nhiêu chú chim nhỏ được thả về trời nhờ những phật tử dốc lòng từ bi làm việc phóng sinh. Cũng chẳng ai tính bao nhiêu chim nhỏ đã chết để đáp ứng nhu cầu từ bi này. Trên mạng có một clip về kỹ thuật bẫy chim sẻ, vừa đơn giản vừa thương tâm. Chim chóc bị bẫy để nhốt, bán... Đã có cầu thì ắt có cung. Nếu là chim, thì mùa Vu lan ắt được mang tên là mùa tang tóc. Chim từng bầy bị nhốt, trước khi về được trời phân nửa số chim dính bẫy chết không kịp hót tiếng hót cuối cùng. Đấy là chim nhỏ, yếu. Chim to hơn thì chẳng mấy ai đem phóng sinh, cứ thản nhiên vặt lông làm mồi nhậu. Nhiều khi trên phố vết máu ròng ròng từ những con chim bị vặt lông sống, bán từng xâu... Chim hót trong lồng, chim trên bàn nhậu và chim thả về trời, nói cho cùng số phận không khác nhau là mấy. Nói chung, riêng về chuyện các loài chim, con người mắc nợ thiên nhiên nhiều lắm. Thế, cũng chưa phải là hết, trên mạng dạo này xôn xao việc trong cuốnTruyện cổ tích về các loài chim và muông thú có những đoạn ướt át như sau: “Nàng nằm xuống thảm cỏ để mặc cho con chim cọ xát vào người, cái cổ của con chim cọ mãi vào ngực nàng, cả thân nó chà xát mãi vào thắt lưng nàng, cái mỏ hơi bẹt của nó cứ dũi mãi vào hai bầu vú cương cứng của nàng...khiến nàng không sao nhúc nhích được cứ nằm mãi như hóa đá”. Đoạn văn này được đem ra mổ xẻ cho là nhạy cảm về mặt giới tính đối với trẻ em. Nhưng mấy hôm nay, người ta bảo cái đoạn ấy thật ra có trong thần thoại, chỉ là copy, paste từ chuyện cổ tích. Khổ trẻ con thế đấy, đọc một đoạn như vậy, vừa phải căng óc tưởng tượng, vừa phải phân biệt phần nào là thần thoại, phần nào là cổ tích - rồi còn được thêm lời khuyên từ các nhà văn hóa rằng sách độc cũng như thực phẩm độc, đọc thì phải biết lựa chọn. Có khái niệm “khách hàng thông thái” thì cũng nên có khái niệm “khách đọc thông thái”. Nghĩ cứ rưng rưng, thương cả trẻ con lẫn các loài chim! Hà Phạm http://thethaovanhoa.vn/dien-dan-van-hoa/chuyen-ve-cac-loai-chim-n20140813152637965.htm
  8. Nhân chuyện “chê bai” nhau hôm nay với một bằng hữu về tính cách mày ba phải tao… bốn phải, em tự dưng “nứng” với tính từ này quá cơ. Liền tìm hiểu từ điển tiếng Việt thì “ba phải” á ô là: Là một tính từ dùng để chỉ tính cách của con người. Khi ta nói ai đó là người ba phải là có ý chỉ trích, phê bình người đó không có hoặc đôi khi không dám bộc lộ chủ kiến, quan điểm hay lập trường riêng của mình, không biết phân biệt phải trái, đúng sai; ai nói gì cũng cho là đúng, là phải. Ví dụ: con người ba phải đồ ba phải(câu mắng) Tại sao không phải là một phải, hai phải, hay bốn phải mà lại là ba phải ?. Người ba phải đằng nào cũng cho là đúng, là phải, không có ý kiến riêng của mình. Em nhớ hồi xưa chưa xa lắm thì các “cụ khốt ta bít” nhà mình thường xách mé những người có tính cách 3 phải là: “Tam ừ thì tư cũng gật”, rồi thì “Mười sáu cũng ư, mười tư cũng gật, rồi nữa “Quan tám ừ quan tư cũng gật” v.v… Vậy thì có phải chăng đó là tính cách ăn theo? Mà chính xác đó là ăn theo nói leo? Nếu thế thì tạm hiểu người ba phải sẽ là cố gắng không để mất lòng ai, nhưng chung quy họ sẽ là chả có tố chất giám chịu trách nhiệm với hành vi, với lời nói của mình! A dua a tòng, người khác đặt đâu thì mình ngồi đấy. Há há há, thế thì họ rất dở… như quả dưa bở trong một môi trường xã hội luôn rất cần thể hiện chính kiến. Người ba phải cư xử tin rằng 3 phải sẽ tốt hơn… 1 phải. Vì 1 phải chỉ có mỗi một sự lựa chọn, sẽ không hay ho bằng 3 phải, đồng nghĩa với 3 sự lựa chọn. Ba là số nhiều sẽ tốt hơn số ít là 1? Một số đàn ông ba phải hành xử suy nghĩ trong cuộc đời của mình một cách lãng mạn là có ba bạn sẽ tốt hơn một bạn. Họ tự sướng nâng niềm hạnh phúc hân hoan bởi có ba cô bồ (hoặc ba cô vợ) luôn trào dâng viên mãn hơn là có một cô bồ hoặc một cô vợ. Thực ra niềm tin logic suy nghĩ của họ khá linh hoạt và khoa học biện chứng. Bởi uốn éo, mềm mỏng bao giờ cũng có lợi hơn cứng thẳng. Nhưng (chết bởi chữ nhưng!), lịch sử nhân loại móm mém thường khẳng khái chứng minh: người ngay thẳng mới tạo ra sự khác biệt, sự khác biệt sẽ gián tiếp giúp cho cuộc sống phát triển. Lịch sử sang trang bởi các anh hùng hào kiệt ngay thẳng còn ghi mãi công danh, bởi họ vẫn đi trái chiều với xã hội ba phải đang cùng chiều. Vẫn còn đó hiện hữu những tượng đài: Quan Công, Cô-Lum-Bua, Na-Pô-Lê-Ông, Oa-Sinh-Tơn, Tướng Giáp v.v… Để khép lại suy nghĩ của mình, em xin chôm chỉa trên mạng một bài thơ vui để giới thiệu tới các bác. Mà chỉ là thơ vui chứ không có chính kiến, chính kiếc gì ở đây cả đâu nhé: Bài ca 3 miền Miền Bắc có lắm thằng điên Trong túi có tiền mà bảo là không Suốt ngày nó chạy lông nhông Ăn tục nói phét làm không ra gì Nhưng mà nó giỏi cực kỳ Triển khai nghị quyết việc gì cũng xong Miền Trung có lắm thằng khôn Nó đưa cửa trước nó luồn cửa sau Suốt ngày tính chuyện làm giàu Nó đưa đúng chỗ nó câu đúng người Nghị quyết nó thuộc mười mươi Nó chỉ vận dụng những nơi nó cần Miền Nam có lắm thằng tham Nó tiêu như phá nó làm như điên Suốt ngày chỉ biết kiếm tiền Bà cả mới có tính liền bà hai Cả đời nó nhậu lai rai Một câu nghị quyết học hoài không xong limdim 15/05/2014
  9. Nói đến hãng đĩa lừng danh Motown của Mỹ thường người ta nhớ đến ngay những cái tên đã trở thành huyền thoại như Michael Jackson, Diana Ross, Smokey Robinson… Nhưng còn một cái tên nữa cũng là một phần không thể thiếu làm nên lịch sử của hãng đĩa này, Lionel Richie. Mới đây, Motown long trọng kỷ niệm 30 năm ngày ra đời ca khúcHello của Lionel Richie, nấc thang đầu tiên đưa Richie trở thành huyền thoại. Trong sự nghiệp 45 năm ca hát, Lionel Richie đã có tổng cộng 5 mâm đĩa vàng Grammy, hơn 100 triệu đĩa hát bán được và hàng tá những sáng tác bất hủ. Nhưng Hello là một bản đặc biệt... Từ đỉnh cao… Hello nằm trong album solo thứ hai của Richie, Can’t slow down (giành giải Grammy năm 1984). Đúng ra bài này đã nằm trong album đầu tiên phát hành năm 1982 nhưng phút cuối Richie đã bỏ ra bởi không hứng thú lắm. Nhưng vì chiều cô vợ Brenda vốn rất yêu thích bài này nên sau đó anh đã thay đổi ý định và cho vào album thứ hai. Và đó là quyết định mang tính bước ngoặt cho sự nghiệp của Lionel Richie. Bài hát là tâm trạng của một gã si tình, yêu nhưng chưa dám ngỏ, chỉ nhìn người ấy đi qua và tự buông lời say đắm trong lòng. Bài hát khá giống cá tính của Lionel Richie thời trẻ. Anh kể lại rằng lúc ấy khá nhút nhát, nhìn những cô gái xinh đẹp đi ngang qua, chỉ tự nói trong lòng, “Hello, is it me you’re looking for?” (Xin chào, có phải anh là người em đang tìm kiếm?). Câu nói ấy ám ảnh Richie cho đến khi sáng tác Hello. Nhưng khi triển khai điệp khúc thì Richie tắc ý và anh quyết định bỏ câu này và thay bằng câu khác. Ngay lúc ấy (như định mệnh), nhà sản xuất James Anthony Carmichael vội chạy đến: “Đó mới là câu hay nhất”. Cuối cùng “Is it me you’re looking for?” được giữ lại và Richie chẳng thể nào biết rằng đó sẽ là câu hát nổi tiếng nhất của cuộc đời anh. Hello được hoàn thành tại studio Ocean Way ở Los Angeles (Mỹ) vào tháng 2/1984. Lionel Richie vừa hát vừa đệm piano. Giai điệu đi theo lối hòa thanh vòng tròn, tạo sự da diết, tiếng guitar gỗ xen giữa của Darrell Jones và Tim May cũng mang theo giai điệu quyện tai, tất cả tạo nên một Hello ấn tượng ngay từ lần nghe đầu. Ngay sau đó Hello leo lên vị trí quán quân tại một loạt thị trường âm nhạc lớn nhất thế giới. Tại Mỹ nó đứng nhiều tuần trên Billboard và trở thành 1 trong 10 bài hay nhất năm 1984. Tại Anh, bài hát giúp Motown đi vào lịch sử vì lần đầu tiên có đĩa hát bán được hơn một triệu bản tại đây và album có bản Hello cũng trở thành album bán chạy nhất trong lịch sử của Motown. Lúc này Lionel Richie đã trở thành ngôi sao sáng, từ đó trở đi anh sẽ còn nhiều sáng tác để đời khác mà We Are The World là một điển hình. Hello đã đưa Lionel Richie đến vinh quang trên con đường solo. Bài hát này được yêu thích trên toàn thế giới. Trong lần biểu diễn mới đây tại Úc, khi Lionel Richie hát đến đoạn điệp khúc “Is it me you’re looking for?” thì cả chục ngàn người đã cầm nến hát theo và không thiếu những giọt nước mắt. Mới đây báo chí Malaysia cũng nhại điệp khúc thành “Lionel, we’re looking for you” để chào mừng Richie sắp có buổi biểu diễn lịch sử tại nước này. Đoạn điệp khúc “Is it me you’re looking for?” sau đó trở thành câu cửa miệng của những anh chàng si tình nhút nhát. Có nhà phê bình còn nhận định chủ nghĩa cá nhân đề cao cái “tôi” nằm rất rõ trong câu hát này. Tại Việt Nam, nghệ sĩ hài Xuân Bắc từng nhại câu này trong chương trình Táo quân thành “Hello, anh sờ tí nhưng em không đồng ý”... Năm ngoái, một video clip quay lại cảnh một người ăn xin làm xúc động cộng đồng. Trong clip này người đàn ông ăn xin cầm đàn và hát “Hello, is it me you’re looking for?”. Hello từ Mỹ bay đến châu Âu, từ châu Úc vòng qua châu Á… Tại Trung Đông, Hello và Lionel Richie là cầu nối của mọi xung khắc, bằng âm nhạc. Tờ Sunshine Coast Daily của Úc cho phóng viên điều tra và thấy rằng âm nhạc của Richie có tính xoa dịu rất cao tại đây. Cho dù Iran và Iraq có nhiều khác biệt nhưng có một điểm chung là người dân hai nước hầu như ai cũng thuộc Hello. Họ cũng chứng kiển cảnh một người Shiite vừa cầm súng vừa hát Hello và nở một nụ cười rất đáng yêu, nhất là đoạn cuối của điệp khúc có chữ “I love you”… Câu điệp khúc mở đầu này cũng đem lại cho Richie rất nhiều tiền nhờ quảng cáo. Chữ “me” trong điệp khúc được thay đổi bằng “tea” (trà), beer… và tất nhiên tài khoản của Richie được nhập thêm hàng triệu đô nhờ những lần thay đổi đó. Nhưng không phải lúc nào cũng là nụ cười. Tháng 7/1984, ngay sau khi phát hành Hello chưa lâu, Lionel Rochie bị vướng vào vụ kiện của một nữ ca sĩ có tên Marjorie Hoffmann White khi người này khẳng định Hello lấy phần lớn giai điệu trong ca khúc I’m not ready to go của bà. Nhưng cuối cùng Richie thắng kiện. Năm 2012 Lionel Richie vướng vào chuyện trốn 1,2 triệu USD tiền thuế và tờ Forbes giật luôn cái tít theo kiểu Richie đang nói chuyện với nhân viên thuế quan “Xin chào, có phải tôi là người các ông đang tìm kiếm?”. … xuống vực sâu Sự thành công của Hello đã dẫn đến ý tưởng quay music video (MV) ca khúc này. Thời đó là khởi điểm của MTV và nếu được công chúng MTV yêu thích sẽ càng làm bài hát thêm nổi tiếng. Lionel Rochie đã giao cho Bob Giraldi đạo diễn MV này. Bob rất nổi tiếng, nhất là với MV Beat itcủa Michael Jackson. Trong MV Hello, Lionel sẽ vào vai một thầy giáo và yêu thầm nhớ trộm cô sinh viên khoa gốm. Điều đặc biệt là cô gái này bị mù. Lúc đọc kịch bản Richie đã tỏ ý phản đối rằng nội dung MV chẳng khớp gì với bài hát cả. Đáp lại, đạo diễn Bob Giraldi thẳng thừng: “Ông không tạo ra câu chuyện này. Người tạo nó là tôi”. MV quay xong và dài hơn 5 phút trong khi bài hát vốn chỉ dài 4 phút. Đạo diễn cho kéo dài thêm bằng những màn đối thoại và những hoạt cảnh không giống lắm cách một ông thầy yêu cô nàng học trò của mình. Lúc thì nhìn lén nơi cửa lớp. Lúc thì đứng hát nơi giữa lớp trong khi cô học trò chẳng có khái niệm nhìn thấy… Kết quả MV này khi ra đời đã bị xem là thảm họa. Kênh UK TV khảo sát 8.000 người và tất cả nhất trí rằng đây là MV tệ nhất mọi thời. Richie thì không muốn xem lại nó lần nào nữa còn đạo diễn thì sau này vẫn nói rằng đó là một ý tưởng tuyệt vời. Tuy vậy Hello vẫn sống tốt trên các đài phát thanh, đĩa nhạc và cả phần lưu diễn của người sáng tác ra nó, Lionel Richie. Bài hát được nhiều nghệ sĩ tên tuổi chơi lại và nhiều bộ phim nổi tiếng của Hollywood cũng sử dụng lại. Tính đến nay Hello đã tròn 30 tuổi nhưng dường như chưa ai chán. Bằng chứng là những chuyến lưu diễn quảng bá album mới của mình, lúc nào Richie cũng bị yêu cầu hát lại, thậm chí nhiều lần trong một đêm diễn. Nguyên Minh Thể thao & Văn hóa Cuối tuần
  10. Những tiếng cười ngày ấy vẫn còn âm vang đến hôm nay. Và tôi biết kỷ niệm như vậy, tựa như những bản nhạc bất hủ, chẳng mấy ai quên trong đời. Sau một tuần dài với bề bộn công việc, cuối cùng tôi cũng có một ít thời gian rỗi vào chiều thứ 6 ở công ty để… nghe nhạc. Lang thang trong một trang web cho phép tải nhạc miễn phí, tôi chọn một album tổng hợp những bản tình ca xưa mang tên “Best Ballad Songs”. Cứ đinh ninh là sắp nghe những bản nhạc đương đại, tôi có chút bất ngờ khi giai điệu của những bản pop thập niên 90 nhè nhẹ cất lên. Bao kỷ niệm ngày thơ bé chợt ùa về như một làn gió mát. Tôi không nhớ mình có sở thích nghe nhạc từ lúc nào, nhưng khi bước vào tiểu học, tôi đã thường nghe nhạc bằng chiếc máy cassette rất to mà ông nội cho ba mẹ lúc cả nhà dọn ra riêng. Thời đấy băng casette được bày bán rất nhiều trong những tiệm bán băng nhạc, theo kiểu đĩa CD như bây giờ, và bao giờ cũng được xếp gọn gàng trong những chiếc rổ hình chữ nhật. Mỗi cuộn băng lại được cất trong một chiếc hộp bằng nhựa trong, kèm danh sách bài hát. Người mua sẽ dựa vô mảnh giấy này để biết bài mình muốn nghe nằm ở mặt A hay B, và áng chừng nó nằm ở đoạn nào của cuộn băng để tua đến nếu không đủ kiên nhẫn. Lâu lâu tôi lại vòi vĩnh mẹ chở đến tiệm “mua nhạc”. Dạo đó tôi đã thích nghe nhạc quốc tế dù chẳng hiểu gì, chỉ say sưa với giai điệu của bài hát. Đứa trẻ 10 tuổi nào biết Nana đã hát một cách cay đắng về cuộc sống bấp bênh trong bản hit “Lonely” năm 1997, cứ vô tư nghêu ngao “I’m lonely, lonely, lonely…”, hoặc nhún nhẩy theo điệp khúc “Shalala lala” trong bản nhạc vui vẻ cùng tên từng lọt vào Top 10 các bảng xếp hạng UK năm 2000 của nhóm nhạc Hà Lan: Vengaboys. Khi Internet vẫn còn là một cái gì đó xa vời, có khi tôi phải tới lui tiệm băng nhạc nhiều lần để tìm bài hát yêu thích, hoặc mua băng trắng đặt người ta thâu lại. Rồi tôi đi nhà sách mua những quyển lời bài hát quốc tế để hát theo, hoặc những quyển thông tin âm nhạc có đính kèm ảnh ca sĩ. Bây giờ nghĩ lại, tôi thấy mình đã có một đam mê khá “dữ dằn” và mối duyên bén rễ từ sớm với âm nhạc. Theo dòng ký ức, sau thời kỳ mặn mà với băng cassette là đến giai đọan tôi chuyển sang mê các chương trình radio mà tiêu biểu là Làn Sóng Xanh trên sóng 99,9 Mhz và làm quen với kênh truyền hình MTV. Hầu như sáng chủ nhật nào tôi cũng dậy sớm chờ nghe biên tập viên Huyền Thanh, bằng chất giọng ấm áp của mình, giới thiệu các ca khúc nhạc trẻ được hát bởi những ca sĩ “đinh” như Phương Thanh, Lam Trường, Thu Phương, Mỹ Linh… Tầm 10g tôi nghe tiếp chương trình các ca khúc quốc tế, đầu giờ chiều lại nghe các bài hát tiếng Hoa. Còn MTV, đó hoàn toàn là một trải nghiệm mới mẻ về việc có thể vừa nghe vừa xem cùng một lúc mà lại không mất tiền, chỉ tốn điện! Đến hẹn lại lên, tới giờ phát sóng là tôi bật TV say sưa với những Britney, Christina, Nsync, Boyzone, A1… Cũng vào thời gian đó, Britney chính thức trở thành một hiện tượng với bài hit “Baby One More Time” năm 1999, không chỉ khiến người Mỹ phát sốt mà cả giới trẻ Việt Nam. Chủ đề tán gẫu trên lớp nay còn có thêm radio, bảng xếp hạng và vũ đạo ca sỹ. Lớn hơn một chút, tôi mua đĩa CD nhiều kinh khủng. Tôi có hẳn một bộ sưu tập đồ sộ hàng trăm đĩa, chỉ ngặt nỗi tất cả đều là hàng sao chép lại. Có lúc tôi chỉ nghe rock. Không phải vì chán đời, mà phần nhiều vì tò mò và cái tôi muốn khẳng định. Cái tai chuyên nghe pop của tôi khi nghe rock phải nói là rất nửa mùa: chỉ nghe được dòng gothic với giọng nữ cao vút và tiếng violon réo rắt trên nền guitar chát chúa và giọng hát trầm khàn mà dân rock dùng thuật ngữ “beast” để ám chỉ. Một trong những ban nhạc tôi vẫn còn thích đến giờ là The Sins Of Thy Beloved dù họ chỉ ra duy nhất 2 album. Chớp mắt, những cái tên lần lượt trở thành dĩ vãng. Spice Girls tan rã, và cả Backstreet Boys. Brit lớn và Michael Jackson trở thành tượng đài. Làn Sóng Xanh nhường chỗ cho các kênh giải trí. Người ta không ra tiệm mua nhạc nữa mà ngồi nhà tải mp3. Tôi vẫn còn nhớ hình ảnh mình và mấy đứa bạn thân ngồi hát trong lớp học vào giờ ra chơi. Đứa hát đoạn này, đứa hát đoạn kia, hoặc tốp ca nếu đó là bài cả bọn đều thích. Những tiếng cười ngày ấy vẫn còn âm vang đến hôm nay. Và tôi biết kỷ niệm như vậy, tựa như những bản nhạc bất hủ, chẳng mấy ai quên trong đời. blog Phương Bùi
  11. MỚI HAY Vì sao có tuổi thơ buồn ? Vì em bị chị băm thành mắm khô Đem biếu mẹ ghẻ trả thù Cổ tích cho lũ trẻ thơ rụng hồn Vì sao ngày bé giật mình ? Vì cây đa ở đầu đình có ma Vì sao lớn lại hoang mang ? Vì nay cuộc sống nhiều phường ác ôn Vì sao chém gió ba hoa ? Vì điều khốn nạn nói ra để cười Vì sao sự thật câm lời ? Vì sự thật chẳng cho ai ích gì Vì sao nước đổ lá khoai ? Vì điều tâm đức là điều thiệt thân Gìà rồi mới biết ngày xưa Gốc đa là một con ma rất hiền Hóa ra đến lúc bạc đầu Mới hay...đời...bãi tha ma đầy người ! Thiết Phan
  12. Ô hô, vừa mới hôm rồi em gửi lời hỏi thăm tới vợ chồng bác Bảy-Sê-Vần (canh ghẹ nấu mồng tơi) qua một người bạn chung của chúng ta. Thì nay bác đã nhắn tin tới em ngay tắp lự, quả là duyên kỳ... nhông, bác nhỉ? Vâng! Tự do du ngoạn đúng nghĩa với bạn bè thì phải có kế hoạch, nhưng em sẽ chả bao giờ từ bỏ kế hoạch này đâu bác ợ. Mà vẫn đang phấn đấu đeo đuổi theo kế hoạch đã định. Phải phấn đấu sao cho trước khi mình... móm mém, khi vẫn còn ham hố với thể lực sung mãn sẽ có đủ thời gian, tinh thần lẫn vật chất để ngao du, để quan tâm và để chia sẻ với bằng hữu trên mọi miền. Giờ đây, khi chưa hội tủ đủ điều kiện thì em "chơi" theo kiểu... đánh lẻ. Tức là a-lê-hấp tới ngay bằng hữu khi nỗi nhớ cồn cào gan ruột, rồi mỉm cười rón rén về nhà để nghe vợ mắng, hehe... Em xin tặng bác những hình ảnh đượm mầu lãng tủ lang thang và chúc anh chị cùng gia đình có nhiều sức khỏe, hạnh phúc, để em còn thỉnh thoảng lân la "xin" dăm bữa vừa râm ran chuyện trò vừa ngân nga ỏm tỏi những giai điệu ưu thích.
  13. VĨNH HẰNG Sóng lòng là sóng biển Dâng lên từ đáy sâu Có nắng vàng gió lộng Cuồn cuộn dội yêu thương Biển thẳm sâu lòng biển Sóng xô bờ ngàn năm Em mênh mông cát trắng Sóng tình anh dạt dào Sóng lòng anh biển hát Những ngày êm biển lặng Sóng lòng anh gào thét Khi bờ em vô tình Tình anh là đại dương Sóng vọng lời chân thật Sẽ muôn đời tung ngọn Sóng trắng yêu vĩnh hằng ! Thiết Phan
  14. Chưa đặt tên cho một chuyện tình Thuyền không bến mãi vẫn lênh đênh Ai quên chênh vênh nhớ mái chèo Đến lựa bến hoang kiếm đò tình Nhìn ra mũi lái có bóng ai Lưng ong đùi dế kẹp mái chèo Quằn quại sóng nước xanh kỳ lạ Lao tới ôm tình lòng lao đao
  15. ĐÊM ĐÊM Mồ hôi lăn giọt môi mềm Phải chăng hạ sớm trộm hôn em rồi Lưng anh lấm tấm giọt rơi Phải chăng giọt của ân tình nửa đêm Đêm kia êm ấm chăn mềm Đêm qua hè sớm thoả thê giường tình Đời người một chuỗi mê si Đêm nay gió lạnh lại về sót cơn...! Thiết Phan