LeLinh

Sàm chiện binh đao

Đánh giá bài viết

13 phản hồi trong bài viết này

10 tàu ngầm hạt nhân đạn đạo hàng đầu thế giới

Tàu ngầm hạt nhân đạn đạo là bước tiến quan trọng trong công nghệ tàu ngầm. Trong khi các tên lửa đạn đạo xuyên lục địa rất dễ bị các lá chắn tên lửa phát hiện thì tàu ngầm loại này có khả năng tàng hình, cơ động và hiệu quả cao.

tau-1-1372648122_500x0.jpg

Tàu ngầm lớp Ohio được đánh giá là tàu ngầm hạt nhân hàng đầu thế giới hiện nay. Đây là tàu ngầm hạt nhân thế hệ thứ 4 của Mỹ, do công ty General Dynamics sản xuất, tổng cộng có 18 chiếc. Tàu có trọng tải 16,764 tấn khi nổi, 18,750 tấn khi hoạt động ngầm, tốc độ 36,8 km/h. Tàu được trang bị 24 ống phóng tên lửa đạn đạo hạt nhân Trident II, ngư lôi hạng nặng Mk48 với 4 ống phóng. Tầm bắn tối đa của tên lửa lên đến hơn 20.000 km, độ chính xác 90 m, mỗi tên lửa mang 12 đầu đạn hạt nhân.

tau-2-1372648122_500x0.jpg

Tàu ngầm lớp Borey của Nga, thuộc đề án 955, được xếp hạng thứ 2. Nga dự kiến sản xuất 8 chiếc tàu ngầm lớp này trước năm 2017, trong đó 7 chiếc sẽ được hoàn thành trước năm 2015 và phục vụ trong hải quân Nga. Tàu có trọng tải choán nước 14.488 tấn khi nổi, 23.621 tấn khi lặn, được trang bị 6 ống ngư lôi 533 mm, 16 tên lửa RSM-56 Bulava với 6-10 đầu đạn mỗi quả.

tau-3-1372648122_500x0.jpg

Tàu ngầm lớp Vanguard là tàu ngầm hạt nhân thế hệ mới của Hải quân Hoàng gia Anh, mô phỏng tàu lớp Ohio của Mỹ nhưng nhỏ gọn hơn. 3 trong 4 chiếc tàu ngầm lớp Vanguard đã đi vào hoạt động trong hải quân Anh. Tàu sử dụng một lò phản ứng hạt nhân áp lực hơi nước RR2 gồm 2 động cơ hơi nước với công suất 27.500 mã lực và 2 động cơ diezen với công suất 2.700 mã lực. Vũ khí gồm 16 quả tên lửa Trident II, tầm phóng 12 nghìn km và 4 ống phóng ngư lôi 533 mm.

tau-4-1372648122_500x0.jpg

Tàu ngầm lớp Typhoon của Nga là tàu ngầm lớn nhất thế giới với tải trọng 25.000 tấn. Typhoon được coi là cơn ác mộng cho các nước phương Tây trong thời Chiến tranh Lạnh. Vũ khí được trang bị cho tàu gồm 4 ống phóng ngư lôi loại 533 mm, 2 ống phóng ngư lôi loại 650 mm dùng để phóng ngư lôi chống hạm loại 53-65K, ngư lôi tự động loại C3T-65 và CA3T-60M. Ngoài ra, tàu còn được trang bị 20 tên lửa đạn đạo SS-N-20, trang bị nhiều đầu đạn hạt nhân cùng ngư lôi và tên lửa chống tàu chiến khác, Typhoon có khả năng tấn công 10 mục tiêu khác nhau chỉ với một lần nhấn nút.

tau-5-1372648122_500x0.jpg

Tàu ngầm hạt nhân lớp Delta của Nga, phát triển từ thời Liên Xô những năm 1970. Loại tàu này gồm các lớp Delta I đến IV. Lớp Delta I có thể mang 12 tên lửa, Delta II mở rộng có thể mang 16 tên lửa, Delta III và IV mang theo 16 tên lửa với nhiều đầu đạn và các thiết bị điện tử cải tiến và cải thiện tiếng ồn.

tau-6-1372648123_500x0.jpg

Tàu ngầm lớp Tấn 094 của Trung Quốc là sự cải tiến của tàu ngầm lớp 093. Tàu được biên chế cho hải quân Trung Quốc từ năm 2005. Tàu được trang bị 16 quả tên lửa đạn đạo phóng ngầm JL-2 với 144 đầu đạn hạt nhân, có tầm phóng từ 10.000-12.000 km. Tàu có 2 lò phản ứng hạt nhân với công suất 20000 mã lực, tốc độ 26 hải lý/giờ.

tau-7-1372648123_500x0.jpg

Tàu ngầm lớp Le Redoutable của Pháp hiện nay tuy không còn được sử dụng nhưng loại tàu này vẫn được đánh giá là một trong những tàu ngầm hạt nhân khiến cho đối phương khiếp sợ. Tàu được trang bị 4 ống phóng ngư lôi 533 mm, với 18 quả ngư lôi và tên lửa M20, tầm phóng 1.900 hải lý.

tau-8-1372648123_500x0.jpg

Tàu ngầm tên lửa đạn đạo thế hệ thứ ba, lớp Le Triomphant được hải quân Pháp bắt đầu phát triển từ năm 1982 và bàn giao cho hải quân sử dụng từ năm 1996. Tàu gồm một lò phản ứng hạt nhân loại K-15, 2 động cơ hơi nước, 1 tua bin điện, công suất 41.000 mã lực. Vũ khí gồm 4 ống phóng ngư lôi loại 533 mm dùng để phóng ngư lôi và tên lửa chống ngầm, 16 tên lửa đạn đạo M45 với mỗi quả mang được 6 đầu đạn, tầm phóng 11.000 km, radar dẫn đường RACAL 1229, hệ thống số liệu tác chiến SAD, hệ thống khống chế vũ khí SAT và DLA4A, hệ thống đối kháng điện tử ARUR-13/DR-3000U và các thiết bị chống ồn khác.

tau-9-1372648123_500x0.jpg

Rafael là tàu ngầm hạt nhân thế hệ thứ 3, sau lớp George Washington và Ethan Allen, của hải quân Mỹ. So với hai thế hệ trước, lớp tàu Rafael được trang bị các tên lửa đạn đạo tầm xa hơn, với hệ thống chỉ huy được cải tiến hơn. Tàu được trang bị lò phản ứng hạt nhân có thể hoạt động liên tục trong vòng 6 năm và vũ khí gồm 16 quả tên lửa đạn đạo, 12 ngư lôi, 4 ống phóng ngư lôi loại 533 mm.

tau-10-1372648123_500x0.jpg

Tàu ngầm lớp Resolution được Anh đóng vào thập niên 60 của thế kỷ trước. Hiện nay hải quân Anh có 4 tàu loại này. Tàu được trang bị 16 quả tên lửa đạn đạo, tầm phóng 4.630 km, 6 ống phóng ngư lôi loại 533 mm.

Vũ Hà (Ảnh: People's Daily)

post-50-0-66118600-1372748152_thumb.jpg

Share this post


Link to post
Share on other sites

'Cuộc chiến bị lãng quên' - 60 năm nhìn lại

Năm nay kỷ niệm 60 năm chấm dứt cuộc chiến tranh khốc liệt trên bán đảo Triều Tiên. Đây là cuộc chiến mà các phóng viên ảnh đã lăn lộn hy sinh để ghi lại bằng hình ảnh. "Cuộc chiến bị lãng quên" góp những tấm hình như thế.

"Cuộc chiến bị lãng quên" của David Douglas Duncan, phóng viên ảnh lừng danh của Mỹ trong thế kỷ 20, được coi là một trong những chùm ảnh xuất sắc về chiến tranh Triều Tiên. Ông bày tỏ mong muốn thông qua những bức ảnh của mình "có thể thấy được những hy sinh của các binh sĩ mỗi khi đất nước của anh ta quyết định lao vào một cuộc chiến".

trieutien0-1362241820_500x0.jpg

Bức ảnh chụp một chỉ huy lực lượng Thủy quân Lục chiến của Mỹ, sau một trận đánh với quân đội Triều Tiên ở gần khu vực sông Naktong năm 1950, được Duncan miêu tả: "Ike Fenton, ướt như chuột vì mưa và những giọt mồ hôi nhỏ xuống từ cằm. Anh ấy đang nghe tin báo rằng đơn vị tả tơi của mình chỉ còn giữ được vài căn cứ. Nếu quân đội Bắc Triều Tiên tấn công thêm một trận nữa thì đơn vị của Fenton sẽ bị hạ gục bởi lưỡi lê và báng súng".

trieutien1-1362241820_500x0.jpg

Cuộc chiến tranh Triều Tiên bắt đầu năm 1950, giữa một bên là quân đội của Bắc Triều Tiên với sự hỗ trợ của Chí nguyện quân Trung Quốc. Phía bên kia là quân đội của Nam Triều Tiên và lực lượng liên quân do Mỹ dẫn đầu. Lúc đầu, miền bắc đánh bật quân miền nam và tiến sâu xuống phía nam bán đảo. Sau một thời kỳ rút lui rồi cầm cự khốc liệt, quân miền nam phản công. Hai bên đi đến đình chiến vào năm 1953 và lấy vĩ tuyến 38 phân chia hai miền.

Trong ảnh, khung cảnh ác liệt của trận chiến giành Seoul năm 1950.

trieutien2-1362241820_500x0.jpg

"Đây là bức ảnh tốt nhất mà tôi chụp được về những người dân thường Triều Tiên. Một gia đình đi xuống cầu thang, người cha ôm đứa bé, xe tăng nã đạn bên trên. Những chiếc xe tăng nhắm đến quân đội Bắc Triều Tiên ngay bên kia con phố trong cuộc chiến giành Seoul",

Duccan nói với tạp chí LIFE. trieutien4-1362241820_500x0.jpg

"Trên chiến trường, Hạ sĩ Leonard Hayworth rơi nước mắt sau khi bò về vị trí và nhận ra rằng tất cả đạn dược đều cạn kiệt", Duncan mô tả về bức ảnh trong cuốn sách xuất bản năm 1951 "Chiến tranh là đây". trieutien3-1362241820_500x0.jpg

Lính thủy đánh bộ Mỹ lội qua vũng lầy trong một trận đánh tháng 9/1950. trieutien6-1362241820_500x0.jpg

Bị thương khi gặp phải mìn, tài xế chiếc xe cứu thương mếu máo ở bên đường khi biết người đồng đội của mình đã chết trong vụ nổ. Con số thương vong trong chiến tranh Triều Tiên khác nhau tùy nguồn báo cáo, được cho là 30.000 lính Mỹ chết trận, quân đội Hàn Quốc mất 400.000 người và 2 triệu dân thường cùng 1,5 triệu lính Triều Tiên thiệt mạng. trieutien7-1362241820_500x0.jpg

Một binh sĩ bị thương được cáng đi bằng khẩu súng máy năm 1950. trieutien8-1362241820_500x0.jpg

Một đơn vị lính thủy đánh bộ của Mỹ hành quân trên con đường bên sườn núi được đặt tên là "Vách núi Ác mộng" trên đường rút quân khỏi căn cứ Choisin năm 1950.

Chiến tranh Triều Tiên 60 năm trước

chientranh1-1362241821_500x0.jpg

Các binh lính nghỉ ngơi sau khi vượt qua Vách núi Ác mộng, tháng 12/1950. chientranh2-1362241821_500x0.jpg

Một binh sĩ mệt mỏi và quấn khăn chống rét trên chiến trường, mùa đông năm 1950. trieutien5-1362241821_500x0.jpg

Một người khác kiệt sức trong giá lạnh. chientranh4-1362241821_500x0.jpg

Trên chiến trường, binh sĩ Mỹ nuôi cả chó để bầu bạn và giảm căng thẳng, sợ hãi. chientranh5-1362241821_500x0.jpg

Đội quân gặp những xác người thiệt mạng trong những cuộc giao tranh nằm la liệt trên đường rút khỏi Chosin. 07-1362241821_500x0.jpg

Đường rút quân khỏi chiến trường đầy khốc liệt. chientranh7-1362241821_500x0.jpg

Các binh sĩ Mỹ đi sau chiếc xe tải chở xác những người đồng đội tử nạn trên chiến trường năm đầu của cuộc chiến tranh Triều Tiên. Khi thỏa thuận ngừng bắn được ký vào ngày 27/7/1953, không ai có thể tưởng tượng được rằng 60 năm sau đó, bán đảo Triều Tiên, về danh nghĩa, vẫn ở trong tình trạng chiến tranh. Hai miền không đạt được hiệp ước hòa bình và khu vực biên giới vẫn dày đặc mìn, pháo, hàng trăm binh sĩ.

Cho đến nay hai quốc gia trên bán đảo Triều Tiên vẫn phát đi những lời lẽ và hành động thù địch. Ngày thống nhất của bán đảo vẫn là một ẩn số.

http://vnexpress.net...2430343-p2.html

Lịch sử chiến tranh Triều Tiên

Chiến tranh Triều Tiên, làm hàng triệu binh sĩ và dân thường của các bên thiệt mạng, chấm dứt cách đây 60 năm nhưng hai miền không đạt được hiệp ước hòa bình. Biên giới Hàn - Triều vần đầy mìn, pháo, là khu vực vũ trang dày đặc nhất thế giới.

Năm 1950, khi cộng đồng quốc tế nỗ lực tái thiết sau Thế chiến II, một cuộc xung đột mới nổ ra ở vùng Đông Bắc Á. Đây là một biến cố hiếm hoi khi Chiến tranh Lạnh biến thành nóng, đặt Mỹ và đồng minh ở thế đối nghịch với Liên Xô, CHDCND Triều Tiên và Trung Quốc.

Cuộc chiến Triều Tiên được đánh dấu bằng những bước ngoặt bất ngờ của lịch sử và số thương vong khổng lồ. Theo các số liệu còn gây tranh cãi, ít nhất hai triệu dân thường và 1,5 triệu lính Triều Tiên thiệt mạng; số lính Mỹ chết trong trận chiến là 30.000, còn quân đội Hàn Quốc mất 400.000 người.

Trong phần lớn thời gian chiến tranh diễn ra, hai bên từng tìm cách đàm phán hòa bình vài lần. Khi thỏa thuận ngừng bắn được ký vào ngày 27/7/1953, không ai có thể tưởng tượng được rằng tròn 60 năm sau đó, bán đảo Triều Tiên, về danh nghĩa, vẫn ở trong tình trạng chiến tranh. Hai miền không đạt được hiệp ước hòa bình và khu vực biên giới vẫn dày đặc mìn, pháo và binh sĩ. 38-1354198412-500x0-1374571328_500x0.jpg

Vĩ tuyến 38 là ranh giới giữa Triều Tiên (màu đỏ) và Hàn Quốc (màu xanh) sau Thế chiến II. Đồ họa: Sakuramochi-jp.blogspot.com.

Cuộc chiến Triều Tiên khởi nguồn từ lịch sử phức tạp trên bán đảo và rộng hơn nữa là trong khu vực. Trung Quốc, Nhật và Liên Xô đều muốn có ảnh hưởng ở nơi này.

Sau cuộc chiến 1904-1905, Nhật Bản giành thế áp đảo và chính thức đô hộ bán đảo Triều Tiên từ năm 1910 cho đến khi Thế chiến II kết thúc.

Chỉ 7 ngày trước khi Nhật Bản đầu hàng vô điều kiện năm 1945, Liên Xô đưa quân vào bán đảo Triều Tiên. Sau đó, Liên Xô và Mỹ đồng ý chia bán đảo này thành hai phần, với đường phân cách là vĩ tuyến 38. Liên Xô tiếp quản miền bắc còn Mỹ quản lý miền nam.

Moscow hậu thuẫn chế độ cộng sản dưới sự lãnh đạo của Chủ tịch Kim Nhật Thành ở miền bắc. Washington tổ chức bầu cử ở miền nam và ông Syungman Rhee đắc cử tổng thống. Quân đội Mỹ và Liên Xô rút khỏi bán đảo Triều Tiên trước năm 1949.

Quân đội Triều Tiên được Liên Xô huấn luyện và trang bị tốt. Họ có 135.000 binh sĩ, xe tăng và pháo. Ngược lại, lực lượng Hàn Quốc chỉ có 98.000. Chính quyền cả hai miền đều muốn thống nhất bán đảo dưới một chế độ.

Rạng sáng ngày 25/6/1950, khi một nửa binh sĩ Hàn Quốc nghỉ cuối tuần, quân đội Triều Tiên bất ngờ tràn sang bên kia vĩ tuyến 38. Mỹ vội vàng huy động binh sĩ của họ ở các căn cứ tại Nhật Bản. Tuy nhiên, lực lượng Mỹ và Hàn Quốc gặp khó khăn trong các cuộc giao tranh ban đầu với quân Triều Tiên. Cuối cùng, họ lui về cố thủ ở thành phố cảng Busan, phía đông nam bán đảo, trong khi Mỹ kêu gọi Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc giúp đỡ.

Hội đồng Bảo an (HĐBA) lập tức thông qua một nghị quyết kêu gọi tất cả các thành viên giúp Hàn Quốc chống Triều Tiên. Quyết định đạt được sự đồng thuận vì đại biểu của Liên Xô, chắc chắn sẽ phủ quyết, vắng mặt trong phiên họp. Đại diện của Liên Xô khi đó tẩy chay tất cả phiên họp của HĐBA cho tới khi Trung Quốc được gia nhập LHQ. chien-tranh-trieu-tien-4a-1354198412_500x0.jpg Các khẩu pháo của Mỹ khai hỏa vào ngày 29/7/1950. Ảnh: AP.

14 quốc gia, bao gồm Australia, Bỉ, Canada, Colombia, Pháp, Hy Lạp, Hà Lan, New Zealand, Philippines, Nam Phi, Thái Lan, Thổ Nhĩ Kỳ và Anh cam kết đưa quân tới bán đảo ở Đông Bắc Á. Binh sĩ của Mỹ, Anh, Canada và Australia chiếm đa số trong 260.000 quân nhân tham chiến.

Trong khi chờ viện binh, lực lượng ít ỏi ở Hàn Quốc cố gắng giữ Busan. Đường tiếp tế của Triều Tiên cũng bị kéo căng một cách nguy hiểm do quân của họ tiến quá nhanh.

Ở phía nam bán đảo, trước tình thế nguy ngập, chỉ huy của quân đoàn số 8 của Mỹ, tướng Walton Walker, đã lên tiếng để động viên tinh thần binh sĩ. Ông đọc bài phát biểu nổi tiếng "Đứng lên hoặc là chết" để kêu gọi binh lính không rút lui nữa. Kết quả là binh sĩ Hàn Quốc cùng 4 sư đoàn Mỹ cầm cự được khoảng 6 tuần. Tuy nhiên, đây cũng là chiến dịch mà quân Mỹ hứng chịu tổn thất lớn nhất về người trong suốt chiến tranh liên Triều. Họ đã mua thời gian bằng máu.

Trong khi quân đội Triều Tiên bao vây Busan, chỉ huy lực lượng Liên Hợp Quốc - tướng Douglas MacArthur - toan tính đảo ngược tình thế chiến tranh. Ngày 15/9/1950, ông phát động một chiến dịch mạo hiểm nhằm vào thành phố cảng Inchon ở phía tây. Mục đích là cắt đứt đường hậu cần và liên lạc của Triều Tiên, khiến họ bị mắc kẹt giữa Inchon và Busan.

Kế hoạch này được cho là mạo hiểm vì binh sĩ sẽ phải vượt qua những đợt thủy triều khó lường ở ngoài khơi và đập ngăn nước cao tới 4 m, sau đó sẽ phải đối mặt với pháo đài kiên cố ở Inchon - nơi mà Triều Tiên đã chiếm. Tuy nhiên, đoàn quân của MacArthur đánh bại những đợt kháng cự và không gặp đòn phản công nào.

Cùng lúc đó, quân đoàn số 8 của Mỹ làm chủ Busan. Binh sĩ Triều Tiên bắt đầu lui quân. Đến ngày 25/9, lực lượng đồng minh đã giành lại Seoul.

quan-doi-trieu-tien-1354198412_500x0.jpg

Một đơn vị pháo của Triều Tiên trong một trận đánh. Ảnh: Korea-np.co.jp.

Đồng minh đáng lẽ dừng lại ở vĩ tuyến 38. Tuy nhiên, Tổng thống Mỹ Harry Truman muốn thống nhất bán đảo để lập một chính phủ ủng hộ phương Tây. Tướng MacArthur liền ra lệnh binh sĩ đuổi theo quân Triều Tiên qua biên giới. Thế nhưng, vì lo ngại chiến tranh mở rộng nên Truman yêu cầu MacArthur không xâm phạm Trung Quốc. Bắc Kinh cũng cảnh báo họ sẽ tham chiến nếu quân đồng minh tràn sang Triều Tiên.

Hôm 15/10, tại đảo Wake Island ở Thái Bình Dương, tướng MacArthur và Tổng thống Truman cùng bàn bạc tương lai chiến tranh. MacArthur tin quân đồng minh sẽ thành công sớm trong chiến dịch Triều Tiên và ông không e ngại việc Trung Quốc can thiệp.

Chỉ 10 ngày sau, quân đội Trung Quốc tiến hành một đợt tấn công đầu tiên nhằm vào đồng minh. Sau đó tướng MacArthur ra lệnh tiến hành chiến dịch dứt khoát vào ngày 24/11, đưa binh sĩ tới tận sông Yalu, nơi đánh dấu biên giới giữa Triều Tiên và đông bắc Trung Quốc. Ông hy vọng rằng chiến dịch này sẽ giúp kết thúc chiến tranh và cho phép binh sĩ “về nhà trước Giáng sinh”. Tuy nhiên, tình thế nhanh chóng đảo ngược vào hôm sau, khi khoảng 180.000 "chí nguyện quân" Trung Quốc phản công. Quá choáng váng, MacArthur thốt lên: “Chúng ta đang đối mặt với một cuộc chiến hoàn toàn mới”. Ông muối mặt ra lệnh rút quân trong điều kiện thời tiết dưới 0 độ, đưa binh sĩ về sau vĩ tuyến 38 trước thời điểm cuối năm.

binh-linh-australia-1354198412_500x0.jpg

Các binh sĩ thuộc tiểu đoàn 3, trung đoàn hoàng gia Australia tham gia một trận đánh trong chiến tranh Triều Tiên. Ảnh: korean-war.commemoration.gov.au

Khi binh sĩ Trung Quốc tiến hành một chiến dịch mới, lực lượng đồng minh buộc phải rút lui tới phía nam Seoul vào tháng 1/1951. Tại đây, nhờ vị thế sân nhà, binh sĩ Liên Hợp Quốc phòng vệ tốt hơn. Sau vài tháng chiến đấu, khu vực vĩ tuyến 38 bình ổn trở lại.

Lúc này Tổng thống Truman tuyên bố Liên Hợp Quốc sẵn sàng ký hiệp ước đình chiến. Tuy nhiên, tướng MacArthur không muốn nhượng bộ. Ông công khai quan điểm mở rộng chiến tranh với Trung Quốc và qua mặt tổng thống, đệ trình ý kiến lên quốc hội.

Truman sa thải tướng MacArthur vì bất tuân vào tháng 4/1951. MacArthur được thay thế bởi tướng Matthew Ridway. Ông này từng thay vị trí chỉ huy quân đoàn số 8 của Mỹ ở Hàn Quốc - tướng Walton Walker - sau khi ông chết vì tai nạn xe hơi.

Các cuộc đàm phán về ngừng bắn bắt đầu vào ngày 10/7/1951. Tuy nhiên, tiến trình này liên tục rơi vào thế bế tắc vì những vấn đề như trao đổi tù nhân hay vị trí của ranh giới tạm thời. Cuối cùng hai bên cũng ký thỏa ước đình chiến, song hoàn toàn do những tác động từ bên ngoài.

Tháng 1/1953, Dwight Eisenhower, người vốn công kích cuộc chiến, kế nhiệm Truman làm tổng thống Mỹ. Eisenhower tuyên bố ông sẵn sàng dùng vũ khí hạt nhân để chấm dứt xung đột ở bán đảo này. Tháng 3/1953, nhà lãnh đạo Joseph Stalin của Liên Xô qua đời.

Ngày 27/7/1953, một thỏa thuận ngừng bắn được ký và đường ranh giới tạm thời được xác định là biên giới mới giữa hai nước. Lúc đó, thỏa thuận đình chiến chỉ được xem là tạm thời cho tới khi "hòa bình được thiết lập lại".

Việc đó vẫn chưa xảy ra. Hội nghị Geneva năm 1954 đã không giải quyết được vấn đề này. Từ đó tới nay, biên giới Triều Tiên vẫn là một điểm nóng.

Hải Long

Share this post


Link to post
Share on other sites

Hình ảnh cuộc chiến Triều Tiên 60 năm trước

Chiến tranh Triều Tiên kết thúc hơn nửa thế kỷ trước làm hàng triệu binh sĩ và dân thường của các bên thiệt mạng nhưng hai miền không đạt được hiệp ước hòa bình và khu vực biên giới vẫn dày đặc mìn, pháo, hàng trăm binh sĩ.

Ở Hàn Quốc, chiến tranh Triều Tiên được gọi là Chiến tranh 6-25, vì nó bắt đầu ngày 25/6/1950, ở Triều Tiên gọi là Chiến tranh Giải phóng, còn Mỹ thì gọi là "Cuộc chiến bị lãng quên" dù nó kéo dài gần 3 năm, làm hàng triệu binh sĩ và dân thường của các bên thiệt mạng. Trong ảnh là binh sĩ Mỹ và Hàn Quốc thảo luận tác chiến trên bản đồ, chụp năm 1952. trieu1-1364787359_500x0.jpg

Các máy bay chiến đấu F-86 Sabres thuộc Không lực 5 tham gia chiến đấu. Chiến tranh Triều Tiên là lần đầu tiên Sabres đi vào hoạt động. Cuộc chiến kết thúc năm 1953 sau khi hai bên ký kết thỏa thuận đình chiến. Đúng 60 năm sau, nguy cơ về một cuộc chiến tranh liên Triều lần thứ hai đang hiện hữu với nhiều tuyên bố cứng rắn và sự chuẩn bị sẵn sàng của các bên. trieu2-1364787359_500x0.jpg

Những phóng viên ảnh của LIFE lăn lộn trên chiến trường, và giống như trong cuộc chiến tranh Việt Nam sau đó, họ chuyển tới thế giới những hình ảnh chân thực nhưng cũng ác liệt nhất của cuộc chiến. Trong ảnh, lính Thụy Sĩ băng bó cho một binh sĩ bị thương trong một trận giao tranh năm 1951. trieu5-1364787359_500x0.jpg

Một binh sĩ Hàn Quốc bị thương được cứu chữa. Cuộc chiến bắt đầu năm 1950, giữa một bên là quân đội của Bắc Triều Tiên với sự hỗ trợ của Chí nguyện quân Trung Quốc. Phía bên kia là quân đội của Nam Triều Tiên và lực lượng liên quân nhiều nước do Mỹ dẫn đầu. trieu6-1364787359_500x0.jpg

Lúc đầu, miền bắc đánh bật quân miền nam và tiến sâu xuống phía nam bán đảo. Sau một thời kỳ rút lui rồi cầm cự khốc liệt, quân miền nam phản công. Hai bên đi đến đình chiến vào năm 1953 và lấy vĩ tuyến 38 phân chia hai miền. Trong ảnh là một gia đình Triều Tiên đi lánh nạn. trieu3-1364787359_500x0.jpg

Cận cảnh một lính Mỹ mặt lấm bùn đất trên chiến trường Triều Tiên năm 1952. trieu4-1364787359_500x0.jpg

Binh sĩ Thổ Nhĩ Kỳ trong cuộc chiến tranh liên Triều. trieu7-1364787359_500x0.jpg

Các binh sĩ Mỹ và liên quân các nước theo dõi buổi biểu diễn phục vụ của Jack Benny trên bán đảo Triều Tiên tháng 7/1951. trieu8-1364787359_500x0.jpg

Nữ phóng viên ảnh chiến trường Margaret Bourke-White ăn cơm cùng binh sĩ Hàn Quốc ngay tại hiện trường năm 1952. trieu9-1364787359_500x0.jpg

Đạn và thuốc súng. trieu11-1364787359_500x0.jpg

Lính Mỹ tuần tra tại một ngôi làng trên bán đảo Triều Tiên năm 1952. trieu10-1364787360_500x0.jpg

Lính Hàn Quốc trong cuộc chiến khốc liệt 60 năm trước. Khi thỏa thuận ngừng bắn được ký vào ngày 27/7/1953, không ai có thể tưởng tượng được đến nay bán đảo Triều Tiên, về danh nghĩa, vẫn ở trong tình trạng chiến tranh. Cho đến nay hai quốc gia vẫn phát đi những lời lẽ và hành động thù địch. Ngày thống nhất của bán đảo vẫn là một ẩn số.

Vũ Hà (Ảnh: LIFE)

Share this post


Link to post
Share on other sites

Căn cứ bí mật của tàu ngầm Hà Nội

Tàu ngầm Hà Nội - tàu ngầm tấn công đầu tiên của Việt Nam sẽ đậu ở Cam Ranh,

nơi được xem là một trong những quân cảng tốt nhất thế giới.

gfgfgfgCamranh-7781-1388371802.jpg

Căn cứ của kilo Hà Nội nhìn từ vệ tinh.

Giới chuyên gia quân sự thừa nhận vị trí của Cam Ranh có tầm ảnh hưởng to lớn tới bản đồ địa - chiến lược toàn cầu. Năm 1888, hải hạm của Nga mang tên "Tráng sĩ” trong chuyến đi vòng quanh thế giới đã cập cảng Cam Ranh, sau đó, nơi đây đã trở thành quân cảng mà các nước lớn thay nhau đồn trú trong vòng gần 100 năm trở lại đây. Trong cuộc chiến Nga - Nhật 1905, hơn 100 chiến thuyền thuộc Hạm đội Thái Bình Dương số 2 của Hải quân Nga Hoàng từng tập trung tại Cam Ranh.

Năm 1935, thực dân Pháp bắt đầu cho xây dựng căn cứ hải quân tại Cam Ranh. Năm 1940, Cam Ranh rơi vào tay Nhật Bản, trở thành bàn đạp để Nhật Bản tiến đánh Malaysia và các quần đảo thuộc địa của Hà Lan (nay là Indonesia).

Ngày 18/10/1946, Cam Ranh là nơi diễn ra cuộc hội kiến giữa Chủ tịch Hồ Chí Minh và Cao ủy Pháp D'Argenlieu. Cuộc gặp gỡ được tổ chức trên thiết giáp hạm Suffren, có các vị chỉ huy hải, lục, không quân Pháp và các nhà báo nước ngoài.

Từ năm 1965 đến 1972, Mỹ đã xây dựng Cam Ranh thành một căn cứ quân sự khổng lồ được coi là “bất khả xâm phạm” để làm cứ điểm tiếp liệu và khí tài quân sự cho chiến tranh, đồng thời khống chế hành lang phía tây Thái Bình Dương.

Vào năm 1969, Lyndon B. Johnson đã đến thị sát căn cứ này và đó là chuyến thăm đầu tiên của một Tổng thống Mỹ khi tới Việt Nam. Lúc đó, căn cứ không quân của Mỹ ở vịnh Cam Ranh rất lớn, bao gồm hai sân bay cho máy bay phản lực và một sân bay cho máy bay trực thăng, mỗi sân bay có sức chứa hơn 100 máy bay. Người Mỹ còn tiến hành khoét núi Cam Ranh, xây dựng kho chứa máy bay trong lòng núi, nâng cấp đường băng lớn có thể cho máy bay ném bom chiến lược B52 cất và hạ cánh. Cao điểm, sân bay quân sự Cam Ranh có tần suất hạ cánh và cất cánh lớn nhất thế giới.

tau-san-bay-9531-1388371802.jpg

Một góc quân cảng Cam Ranh trong quá khứ.

Năm 1972, người Mỹ trao lại căn cứ này cho quân đội Sài Gòn và 3 năm sau Quân đội nhân dân Việt Nam giải phóng Cam Ranh. Khi tiếp quản, Cam Ranh đã bị phá hủy hoàn toàn các bến neo tàu, đường sá, sân bay, hệ thống đường dây tải điện cũng như các khu nhà ở.

Chuẩn đô đốc E.I Prokôpievich, người Nga cuối cùng lên tàu Xakhalin-9 rời Việt Nam năm 2002 trong cương vị Chỉ huy trưởng Trạm cung ứng vật tư kỹ thuật 922 của Cam Ranh nhận định, căn cứ quân sự trước đây của Mỹ trên bán đảo Cam Ranh - Khánh Hòa đã thu hút sự chú ý của Liên Xô bằng chính vị trí địa lý của nó, xét về mọi phương diện thì hoàn toàn ưu việt cho việc triển khai một căn cứ hải quân.

Nó cho phép khống chế các eo biển Malaysia và Philippines, có thể tiến hành trinh sát điện tử Biển Đông, biển Philippines... thậm chí tới tận khu vực vịnh Pécxích hay vùng bắc Ấn Độ Dương. Bán đảo Cam Ranh bọc trong mình hai vịnh Bình Ba và Cam Ranh, nơi không chịu ảnh hưởng của các hiện tượng thời tiết, có độ lớn và sâu để có thể neo đậu mọi loại chiến hạm và tàu hộ tống, kể cả tàu sân bay.

Từ những năm 60 của thế kỷ trước, Hải quân Liên Xô đã bắt đầu tiến hành trực ban chiến đấu trên các đại dương. Tàu chiến, tàu ngầm, máy bay hải quân được triển khai trên các đại dương nhằm mục đích bình ổn cục diện chung.

Việc mở rộng quy mô cũng như vùng hoạt động của tàu thuyền và không quân trên biển yêu cầu phải có mạng lưới hậu cần kỹ thuật hải quân rộng khắp. Vì không có căn cứ quân sự ở nước ngoài nên Liên Xô đã xây dựng trạm cung ứng vật tư kỹ thuật trên lãnh thổ các nước có quan hệ thân thiện và Cam Ranh là một điểm sáng.

Cuối năm 1978, nhóm sĩ quan đại diện cho các tổng cục của Bộ Tư lệnh Hải quân và Hạm đội Thái Bình Dương Liên Xô đã đáp máy bay sang Việt Nam để ngày 30/12 đã thỏa thuận và ký biên bản ghi nhớ làm cơ sở đàm phán xây dựng và cùng khai thác Trạm cung ứng vật tư kỹ thuật.

Ngày 2/5/1979, Chính phủ Liên Xô và Việt Nam đã ký hiệp định về việc sử dụng Cam Ranh làm Trạm cung ứng vật tư kỹ thuật cho Hạm đội Thái Bình Dương của quân đội Liên Xô trong 25 năm.

Ngay hôm đó, thi hành lệnh của Bộ tổng tham mưu các lực lượng vũ trang Liên Xô và Chỉ thị số 13/1/0143 của Cục Tham mưu hạm đội Thái Bình Dương ngày 28/8/1980, Trạm cung ứng vật tư kỹ thuật đã được thành lập trên bán đảo Cam Ranh mang phiên hiệu đơn vị 31350.

khu-can-cu-4009-1388371803.jpg

Ảnh tư liệu về quân cảng Cam Ranh.

Theo quy định trong Hiệp định, tại quân cảng Cam Ranh cùng lúc có thể tập trung từ 8-10 tàu chiến Liên Xô, 4-8 tàu ngầm có khu neo nổi và tối đa 6 tàu hộ tống. Tại sân bay cùng lúc có thể tiếp nhận từ 14-16 máy bay mang tên lửa, 6-9 máy bay trinh sát do thám và 2-3 máy bay vận tải. Tùy theo tình hình chiến sự cụ thể, số lượng máy bay và tàu chiến có thể tăng lên theo thỏa thuận giữa hai Bộ Quốc phòng Liên Xô và Việt Nam.

Tháng 5/1979, các tàu chiến Liên Xô bắt đầu đi vào hải phận Cam Ranh. Mùa hè năm đó, tàu ngầm nguyên tử phóng ngư lôi K-45 đã neo đậu tại Cam Ranh, sau đó ít lâu, các máy bay hải quân của hạm đội Thái Bình Dương bắt đầu hạ cánh.

Tháng 12/1979, Tổng tư lệnh Hải quân Liên Xô, Đô đốc X. Gorskốp tới Cam Ranh và ông đã dành một ngày để quan sát vịnh biển này, giống y như cách Tổng thống Mỹ Johnson đã tới để ngắm nhìn địa thế “sông núi nước Nam” 10 năm về trước.

Phân đội đầu tiên của Hạm đội Thái Bình Dương gồm 54 người đến đây tháng 4/1980 và tháng 8 năm đó quân số được bổ sung thêm 24 người thuộc bộ phận thông tin liên lạc.

Bộ Tổng tư lệnh các lực lượng vũ trang và Chính phủ Liên Xô đã giao cho Trạm cung ứng vật tư kỹ thuật 922 nhiệm vụ làm giảm nhẹ đáng kể áp lực cho Hạm đội Thái Bình Dương nói riêng và toàn bộ Hải quân Liên Xô nói chung trong việc cung cấp dự trữ cần thiết cho các chiến hạm và tàu hộ tống đang làm nhiệm vụ tại Biển Đông. Cam Ranh trở thành căn cứ hải quân lớn nhất của Liên Xô ở nước ngoài, căn cứ duy nhất bên bờ Biển Đông, nơi cách cảng gần nhất của Nga 2.500 hải lý.

Từ mùa Thu năm 1983 đến tháng 8/1991, hải đoàn cơ động số 17 triển khai tại Cam Ranh, từ tháng 8/1991 đến tháng 12/1991 được thay thế bằng hải đoàn cơ động số 8 và sau đó là hải đội tàu hỗn hợp 119. Thời điểm năm 1986, trên sân bay triển khai trung đoàn không quân hỗn hợp độc lập gồm 4 máy bay Tu-95, 4 chiếc Tu-142, phi đoàn máy bay Tu-16 khoảng 20 chiếc các loại, phi đoàn MiG25 khoảng 15 chiếc, hai máy bay vận tải An-24 và 3 máy bay lên thẳng Mi-8. Ngoài ra trung đoàn còn quản lý và chỉ huy căn cứ chống tàu ngầm, tiểu đoàn tên lửa và tiểu đoàn kỹ thuật.

Tháng 2/1984, theo đề nghị của phía Việt Nam, Chính phủ Xô Viết đã quyết định khôi phục và xây dựng thêm một loạt công trình tại căn cứ Cam Ranh. Việc xây dựng Cam Ranh bước sang một giai đoạn mới, chuyển từ hình thức tự hạch toán kinh tế sang hình thức đấu thầu khoán gọn, bắt đầu giai đoạn xây dựng kiên cố thay cho các kết cấu lắp ghép tạm thời.

N.M Zariphôvich - Phó tổng giám đốc Công ty Xây lắp Liên Xô tại Việt Nam giai đoạn 1987-1989 đã kể lại trong cuốn “Liên Xô - một từ không bao giờ quên” (Nguyễn Đình Long dịch) rằng, Cục kỹ thuật xây dựng nước ngoài thuộc Bộ Quốc phòng Liên Xô, đơn vị có nhiều kinh nghiệm xây dựng các công trình ở hơn 60 nước trên thế giới đảm nhiệm việc lựa chọn và đưa chuyên gia đến Cam Ranh. Họ là những chuyên gia tài năng của các đơn vị trong và ngoài quân đội được các tổ chức Đảng, Đoàn giới thiệu, được chở sang bằng đường hàng không qua Mátxcơva hay Vlađivôxtốc theo hành trình Mátxcơva - Tasken - Karachi (đôi khi là Bombay) - Kancútta - Hà Nội - Cam Ranh.

Trên cơ sở Hiệp định ký giữa Liên Xô và Việt Nam ngày 20/4/1984, hai bên đã ký hợp đồng xây dựng cụm đài rađar số ba, là công trình viện trợ không hoàn lại. Tính chung từ năm 1984 đến năm 1987, Tổng Công ty Xây lắp Liên Xô do E.X Bôprênhép làm Tổng giám đốc đã xây dựng tổng cộng 28 nhà ở và công trình chuyên dụng các loại. Lúc đó tổng số người Liên Xô sống trong khu quân sự là 6.000 người, kể cả công nhân xây dựng.

Theo thỏa thuận trong mục 71 của Hiệp định ký ngày 20/4/1984, các công trình xây dựng xong sẽ bàn giao cho phía Việt Nam sử dụng. Các hạng mục đầu tiên được xây dựng xong từ tháng 12/1987, sau đó các chuyên gia Liên Xô bắt đầu sử dụng theo hình thức thuê miễn phí.

Có thể thấy rằng, về cơ bản, các công trình được Liên Xô - Nga xây dựng ở Cam Ranh bao gồm: Khu nhà ở của Trạm cung ứng vật tư kỹ thuật, trong đó có sở chỉ huy đơn vị 31350 và doanh trại cho quân số biên chế của đơn vị, nhà ăn 250 chỗ, lò bánh mỳ, tổ hợp tắm hơi - giặt là, CLB, trường phổ thông số 183, 18 tòa nhà ở, kho tổng hợp lưu giữ và cấp phát vật tư, đội xe (gồm cả xe chuyên dụng); vùng bến nhỏ; bể chứa ngầm thể tích 14.000m3 dùng để chứa nhiên liệu; hai hầm lạnh dung tích 270 tấn dùng để chứa thực phẩm lưu trữ; 12 kho khung sắt dùng để chứa các loại vật tư khác nhau; Hai bể lọc giếng khoan, một dùng cho sinh hoạt, một dùng cho chiến hạm và các tàu hộ tống; Trạm phát điện trung tâm công suất 24.000kW cấp điện cho tất cả các công trình thuộc khu quân sự và của Việt Nam trên bán đảo…

Khi từ biệt Cam Ranh, người Nga đã chở đi 588 người, 819 tấn hàng trong đó có 50 chiếc ôtô và xe chuyên dụng, 190 tấn dầu diezel, 133 tấn dầu mỡ các loại, vũ khí đạn dược cũng như tài liệu lưu trữ và tài liệu mật, bằng cả đường hàng không và đường biển. Đồng thời, người Nga bàn giao cho phía Việt Nam 57 tòa nhà và công trình thuộc căn cứ, 85km đường dây tải điện lưới, 62km đường điện cáp, 25km công trình ngầm, 250m cầu cảng, sân bay và hệ thống quản lý kho.

U.X Ivanôvích, Đại tá quân dự bị, cựu binh Cam Ranh kể lại rằng, cho đến tận năm 1992, khi Liên Xô tan rã, thủ tục ra vào khu quân sự vẫn do phía Việt Nam quy định. Theo thỏa thuận thì mỗi tháng chỉ 4 chuyến xe được đi ra ngoài theo kế hoạch định trước với số lượng người hạn chế, chủ yếu là dành cho thủy thủ Hạm đội Thái Bình Dương. Còn số nhân viên kỹ thuật của Trạm cung ứng vật tư kỹ thuật thì do “nhiều yếu tố” nên ra “vùng tự do” là vi phạm luật.

Căn cứ hải quân Cam Ranh ngày nay được xem là một trong những căn cứ lớn nhất của hải quân Việt Nam; được chọn là căn cứ của tàu ngầm kilo Hà Nội và có thể thêm những "người anh em" của nó, quân cảng Cam Ranh ngày càng khẳng định tầm quan trọng chiến lược về quân sự của mình.

http://vnexpress.net/tin-tuc/thoi-su/can-cu-bi-mat-cua-tau-ngam-ha-noi-2930310.html

Share this post


Link to post
Share on other sites

Hành trình tàu ngầm Kilo Hà Nội từ nhà máy đến Cam Ranh

Ngày 31/12/2013, tàu ngầm Kilo HQ 182 Hà Nội đã được tàu vận tải chuyên dụng đưa về cảng Cam Ranh sau chuyến hành trình kéo dài một tháng rưỡi.

1-7274-1388544922.jpg

Ngày 28/8/2012, tàu ngầm Kilo 636 Hà Nội được đưa lên dock chuẩn bị cho lễ hạ thủy chính thức. (Ảnh tư liệu của nhà máy đóng tàu Admiraltei verfi).

2-5255-1388544922.jpg

Thủy thủ đoàn của tàu ngầm Hà Nội tại lễ hạ thủy. (Ảnh tư liệu)

5-3263-1388544922.jpg

Lãnh đạo nhà máy Admiraltei verfi tặng lãnh đạo quân chủng Hải quân Việt Nam mô hình tàu ngầm Kilo 636 tại lễ hạ thủy. (Ảnh tư liệu)

6-2441-1388544922.jpg

Tàu ngầm Hà Nội neo đậu tại cảng của nhà máy trong thời gian hoàn thiện phần tháp tàu. (Ảnh tư liệu)

7-5893-1388544922.jpg

Đầu tháng 12/2012, tàu ngầm Hà Nội có chuyến ra biển lần đầu tiên, chính thức bắt đầu giai đoạn thử nghiệm nhà máy. (Ảnh tư liệu)

8-2048-1388544922.jpg

Tàu ngầm Hà Nội kết thúc giai đoạn thử nghiệm trên biển với kết quả xuất sắc. (Ảnh tư liệu)

9-7819-1388544922.jpg

Tàu ngầm Hà Nội trở về nhà máy Admiraltei verfi để bước sang giai đoạn thử nghiệm trên bờ và thử nghiệm tiếp nhận-bàn giao. (Ảnh tư liệu)

15-9016-1388544922.jpg

T

hủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đến thị sát tàu ngầm Hà Nội hồi tháng 5/2013. (Ảnh tư liệu)

14-4191-1388544922.jpg

Ngày 30/7/2013, lãnh đạo Nhà máy Admiraltei verfi thông báo sẽ bàn giao tàu ngầm Hà Nội cho Hải quân Việt Nam vào tháng 11/2013. (Ảnh tư liệu)

16-2567-1388544923.jpg

Tàu ngầm Hà Nội trên tàu vận tải trong hành trình về cảng Cam Ranh. (Nguồn: Marinetraffic.com)

\ 17-6269-1388544923.jpg

Đồ họa quân cảng Cam Ranh, nơi được cho là căn cứ chính của tàu ngầm HQ 182 Hà Nội. (Nguồn: ru.wikipedia.org)

Theo TTXVN

1 person likes this

Share this post


Link to post
Share on other sites

Cam Ranh - căn cứ quân sự lừng lẫy một thời

8 năm là căn cứ không quân "bất khả xâm phạm" của Mỹ, 24 năm là căn cứ quân sự lớn nhất của Liên Xô ở nước ngoài đã khiến Cam Ranh trở thành một trong những quân cảng nổi tiếng nhất thế giới.

Cam-ranh-ariaview-6026-1388716848.jpg

Năm 1965, sau sự kiện vịnh Bắc Bộ, chính quyền Việt Nam Cộng hòa đã cho phép Mỹ sử dụng Cam Ranh (Khánh Hòa) làm căn cứ quân sự. Ảnh: Peter A. Bird.

Cam-ranh-1969-3548-1388716848.jpg

Trong khoảng 8 năm đóng quân ở đây, Mỹ đã chi hàng trăm triệu USD để xây dựng Cam Ranh thành căn cứ quân sự và hậu cần "bất khả xâm phạm" cho lực lượng Hải - Lục - Không quân. Căn cứ này cũng chính là bàn đạp để Mỹ đánh phá miền Bắc Việt Nam. Ảnh: Jeri Sisco

Cam-Ranh-1966-1967-5712-1388716849.jpg

Nơi đây có nhiều kho nhiên liệu, kho đạn, xưởng đại tu xe tăng, hệ thống radar hiện đại, hệ thống thông tin liên lạc qua Thái Lan, Philippines bằng cáp ngầm xuyên biển. Ảnh: Don Griffin

May-bay-ha-canh-8718-1388716849.jpg

Cam Ranh còn có kho chứa máy bay trong lòng núi, đường băng dài để phục vụ máy bay quân sự cỡ lớn như máy bay ném bom chiến lược B-52. Có những lúc, tần suất hạ cánh và cất cánh ở sân bay Cam Ranh được xếp vào hàng cao nhất thế giới. Ảnh: Dunlin.

May-bay-CR-5065-1388716849.jpg

Máy bay cường kích hạng nặng Lockheed AC-130A ở Cam Ranh tháng 3/1969.

Cam-ranh-69-7522-1388716849.jpg

Một góc doanh trại quân đội ở quân cảng Cam Ranh năm 1969.

Cam-ranh-HQ-69-9479-1388716849.jpg

Đại bản doanh của lính Mỹ tại căn cứ quân sự này.

Cam-ranh-HQ1-6491-1388716849.jpg

Đây là nơi ở của hàng chục nghìn binh lính Mỹ, trong đó đông nhất là Lục quân và Không quân.

Cam-ranh-base-4924-1388716849.jpg

Trong căn cứ quân sự này còn có câu lạc bộ dành cho lính không quân.

Jonson-tham-Cam-Ranh-3182-1388716849.jpg

Năm 1966, Tổng thống Mỹ Johnson đã tới thăm Cam Ranh và đây cũng là chuyến thăm đầu tiên của một Tổng thống Mỹ khi tới Việt Nam.

Tau-o-Cam-Ranh-2107-1388716849.jpg

Để bổ sung binh lính và trang thiết bị cho căn cứ quân sự Cam Ranh, Mỹ đã điều nhiều chuyến tàu vận tải tới đây. Trong ảnh là chuyến tàu chở lính của Sư đoàn Không vận 101 tới Cam Ranh. Ảnh: Bettmann

Tau-Cam-ranh-5132-1388716849.jpg

Theo một số tài liệu, mỗi tháng trung bình có khoảng 40 chuyến tàu cập cảng Cam Ranh. Căn cứ này tiêu thụ mỗi tháng hơn 3 triệu lít xăng dầu, gần 30.000 lít sữa, 26.000 kW điện...

USNS-Richard-8671-1388387486.jpg

Dù căn cứ không quân Cam Ranh được Mỹ tự hào là hiện đại, an toàn nhưng từng bị bộ đội đặc công tinh nhuệ của Việt Nam đột kích, đốt cháy máy bay C130 và cho nổ kho bom. Năm 1972, Mỹ bàn giao căn cứ này cho quân đội Sài Gòn. Hơn 38 năm sau, tháng 8/2011, tàu USNS Richard E. Byrd đã trở thành tàu đầu tiên của Hải quân Mỹ trở lại quân cảng Cam Ranh.

http://vnexpress.net...oi-2930501.html

Share this post


Link to post
Share on other sites

Cam Ranh - 24 năm làm căn cứ quân sự của Liên Xô

Năm 1979 - 2002, Cam Ranh được Liên Xô (và sau này là Nga) thuê làm căn cứ quân sự của Hải đoàn tác chiến cơ động số 17 thuộc Hạm đội Thái Bình Dương.

Cam-ranh-10-7427-1388716849.jpg

Cuối năm 1978, Liên Xô đã ký thỏa thuận với Việt Nam về việc xây dựng và cùng khai thác Trạm cung ứng vật tư kỹ thuật tại Cam Ranh. Theo đó, quân cảng này là nơi tiếp nhận tàu chiến, tàu ngầm, tàu hộ tống cùng nhiều máy bay trinh sát, vận tải và máy bay mang tên lửa của Hải đoàn tác chiến cơ động số 17 thuộc Hạm đội Thái Bình Dương.

Tau-o-Cam-Ranh-5-3807-1388716849.jpg

Tháng 5/1979, các tàu chiến Liên Xô bắt đầu đi vào hải phận Cam Ranh. Tuy nhiên, hạ tầng ở khu vực này đã bị phá hủy sau khi quân đội Mỹ rút đi. Trong ảnh là tàu căn cứ nổi "Ivan Vakhrameev" đề án 1886 tại Cam Ranh đầu những năm 1980.

Do-doc-Nga-5870-1388716849.jpg

Tháng 12/1979, Đô đốc S.G.Gorshkov - Tổng tư lệnh Hải quân Liên Xô đã đến Hà Nội để đặt quan hệ công tác với Bộ Quốc phòng Việt Nam. Sau đó, ông đã dành một ngày thăm căn cứ Cam Ranh.

Tau-nga-Cam-Ranh-2-2623-1388716849.jpg

Tháng 4/1980, phân đội đầu tiên của Hạm đội Thái Bình Dương gồm 54 người đến đây và 4 tháng sau được bổ sung 24 người thuộc bộ phận thông tin liên lạc. Trong ảnh là khu trục hạm thuộc đề án 956 trong vịnh Cam Ranh năm 1982.

Cau-tau-can-cu-Cam-Ranh-9651-1388716850.jpg

Cầu tàu quân cảng Cam Ranh nhìn từ trên boong tàu "Vasili Chapaev".

Tau-o-CR4-6713-1388716850.jpg

Cam Ranh lúc nào cũng tấp nập tàu ngầm, tàu căn cứ, tàu công binh..

. Don-tau-ngam-5544-1388716851.jpg

Tuần dương hạm tên lửa đề án 1134 "Vlapostok" đón và hộ tống tàu ngầm tiến vào căn cứ Cam Ranh.

Tau-ngam-nga-o-CR-3-3325-1388716850.jpg

Tàu ngầm diezel B-427 "Scorpion" thuộc biên chế sư đoàn tàu ngầm số 38-binh đoàn 17 trú đóng tại Cam Ranh

Tau-vao-CR-1170-1388716850.jpg

Do có khả năng cung cấp những dự trữ cần thiết cho các chiến hạm và tàu hộ tống đang làm nhiệm vụ tại biển Đông nên Cam Ranh đã trở thành căn cứ hải quân lớn nhất của Liên Xô ở nước ngoài, căn cứ duy nhất bên bờ Biển Đông, nơi cách cảng gần nhất của Nga 2.500 hải lý.

Khu-ve-dem-5378-1388716851.jpg

Trạm đảm bảo kỹ thuật hậu cần (PMTO 922) về đêm. Hải đoàn 17 cùng với PMTO 922 đóng vai trò quan trọng trong kế hoạch sử dụng sức mạnh của Hạm đội Thái Bình Dương nhằm giải quyết các nhiệm vụ chính trị và quân sự tại khu vực.

May-bay-roi-CR-7667-1388716851.jpg

Dù còn 3 năm nữa mới hết hợp đồng thuê Cam Ranh nhưng năm 2001, Nga đã quyết định rút khỏi căn cứ quân sự này. Ngày 2/5/2002, hai bên ký biên bản tiếp nhận - bàn giao các hạng mục tại Cam Ranh. Ngày 3/5, chuyến bay vận tải quân sự IL-76 cuối cùng chở các chuyên gia và các quân nhân Nga về nước.

Tam-biet-CR-9332-1388716851.jpg

Ngày 4/5/2002 - ngày cuối cho sự hiện diện quân sự của Nga tại Việt Nam - các quân nhân, chuyên gia Nga rời PMTO 922 trên ôtô trong tiếng nhạc bài "Các sĩ quan". Còn các chiến sĩ Vùng 4 Hải quân Việt Nam đứng nghiêm trên cầu cảng để tiễn những người bạn Nga. Trên boong "Sakhalin-09", Chuẩn đô đốc Eryomin, chỉ huy trưởng cuối cùng của căn cứ giơ tay chào những người đồng đội Hải quân Việt Nam.

http://vnexpress.net/tin-tuc/thoi-su/cam-ranh-can-cu-quan-su-lung-lay-mot-thoi-2930501-p2.html

Share this post


Link to post
Share on other sites

SỰ THẬT CẦN BIẾT VỤ “TÀU SÂN BAY KHOAN DẦU” HD981 CỦA TRUNG QUỐC XÂM PHẠM VIỆT NAM

Một bài viết rất sâu sắc và chính xác về tình hình biển Đông mà tất cả chúng ta và thế giới cần biết.

SỰ THẬT CẦN BIẾT VỤ “TÀU SÂN BAY KHOAN DẦU” HD981 CỦA TRUNG QUỐC XÂM PHẠM VIỆT NAM

Tác giả Nguyễn Ngọc Long

d91238a82b1593bcb1ef4eaf672a3f9f.jpg

Mới đây, trên trang fanpage Na Son Photographer cho đăng tải một “câu hỏi” với mục đích chỉ trích việc Việt Nam không đưa “tàu ngầm lớp hộ vệ” ra ngăn chặn HD981 với nội dung như trích dẫn dưới đây:

“Một cái giàn khoan semi-sub tối tân nhất như cái trong hình này nếu tự chạy thì có thể đạt tối đa 3 hải lý/giờ. Nếu có tàu dịch vụ kéo (tug boat) thì tốc độ di chuyển cũng nhanh hơn đôi chút và khó vượt được 7 hải lý/giờ do kích thước to lớn cồng kềnh của nó.

Cái giàn CNOOC Hải Dương-981 của Tàu chắc cũng không thể di chuyển nhanh hơn. Vậy là trong mấy ngày trước nó được đưa vào biển Đông rất chậm rãi, từ từ. Nhà cháu chả hiểu khi ấy mấy cụ Đinh Tiên Hoàng (lớp hộ vệ Gepard gì đó hiện đại kinh khủng lắm) hay mấy cụ "hố đen" Hà Nội, TPHCM... đang ở đâu mà không ra cản nó lại? Tiền hàng tỷ USD của dân nhà cháu còng lưng bỏ ra không nhẽ chỉ để các cụ lượn quanh quân cảng để cho đám nhà báo chụp hình đăng bài khích lệ tinh thần?!”

Mình cho rằng đây là một câu hỏi ngô nghê, thiếu hiểu biết trầm trọng về Luật biển, Công ước Quốc tế về Luật biển; đồng thời đang đánh tráo khái niệm để kích động chỉ trích bằng những điều không thật.

Trước khi đi sâu phân tích, mình cần phải nhấn mạnh rằng vấn đề chủ quyền Biển đảo là rất phức tạp, việc xác lập và thực thi chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán liên quan cũng phát sinh nhiều phức tạp. Vì thế, nội dung dưới đây sẽ chỉ đề cập theo hướng bình dân hoá và đơn giản hoá khái niệm. Trong một số trường hợp, có những quy định chi tiết quá phức tạp đi kèm đã được mình che lấp đi nhưng đảm bảo không làm ảnh hưởng đến nội dung cần diễn đạt và không làm sai lệch tinh thần về mặt luật pháp.

1- CÁC THUẬT NGỮ NHẤT QUYẾT BẠN CẦN NẮM RÕ

>>> Khi bạn làm chủ một “mỏm đất”, bạn có chủ quyền với “mỏm đất” này. Nếu “mỏm đất” này là đất liền, chúng ta có chủ quyền với vùng đất liền. Nếu “mỏm đất” này là đảo, chúng ta có chủ quyền với đảo. Bất kể đó là đảo nổi (luôn luôn có phần nổi trên mặt nước kể cả khi thuỷ triều dâng lên cao nhất), đảo chìm, đảo nửa nổi nửa chìm hay bãi đá - bãi cạn.

>>> Vì một vùng đất thì rất méo mó, lô nhô chứ không phải hình tròn, hình vuông, tam giác hay tóm lại không phải được vạch ra bởi các đường thẳng, nên để xác định chủ quyền, người ta phải vẽ ra một đường biên gồm nhiều đường thẳng liền nhau bao vùng đất này lại. Các đường này gọi là đường cơ sở.

>>> Với các quốc gia ven biển như Việt Nam, khi vẽ đường cơ sở để bao vùng đất ven biển lại thì sẽ xuất hiện những vùng tiếp giáp nằm trong đường biên đất liền uốn éo với đường cơ sở thẳng thắn ở phía ngoài. Vùng “chêm vào” này được gọi là vùng nội thuỷ. Chúng ta có chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán với vùng nội thuỷ.

>>> Chủ quyền tức là thể hiện vai trò sở hữu. Quyền chủ quyền là thực thi các quyền với khu vực thuộc sở hữu của mình, không cho thằng khác tự nhiên tới chiếm. Quyền tài phán là quyền làm trọng tài phán quyết, hiểu nôm na là quyền được làm ông nội thằng khác khi nó hiện diện trong vùng đó. Thí dụ ở quốc gia mày, thuỷ thủ được cởi truồng, nhưng qua tới khu vực mà tao có quyền tài phán thì tao phán quyết thuỷ thủ nhà mày không được cởi truồng, mày phải kêu chúng nó mặc quần áo vào.

>>> Sau khi được bao bọc lại bởi các đường cơ sở thẳng để xác lập vùng nội thuỷ, chúng ta “nới rộng” ra 12 hải lý để xác định vùng lãnh hải. Đây là vùng chúng ta có “quyền chủ quyền” và “quyền tài phán” trong khi các quốc gia khác có “quyền qua lại không gây hại”. Tức là nếu Trung Quốc, Nga, Nhật, Mĩ… họ đưa tàu của họ lượn qua lượn lại CHỈ để “thăm quan” thì chúng ta không có quyền đánh đuổi, đe doạ hay ngăn cản. Họ cũng chẳng cần phải xin phép. Trừ khi chúng ta phát hiện ra họ có những vấn đề làm phương hại đến chủ quyền của chúng ta thì chúng ta thực thi “quyền chủ quyền” để đuổi họ đi chỗ khác chẳng hạn.

>>> Từ vùng lãnh hải, nới rộng ra tiếp 188 hải lý (hay 200 hải lý tính từ đường cơ sở) là vùng đặc quyền kinh tế, là vùng biển mà chúng ta có quyền chủ quyền để thực hiện các việc như đánh bắt tôm cua cá mực, hút dầu hút cát, lắp đặt máy phát điện bằng sức gió, sức biển… Chúng ta đồng thời có quyền tài phán để cho hay không cho thằng khác làm những việc này. Trung Quốc không được đánh bắt tôm cua cá mực, không được hút dầu trong vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam. Mặc dù Trung Quốc (và tất cả các quốc gia khác) được quyền tự do cho tàu chạy tới chạy lui (tự do hàng hải), cho máy bay lượn qua lượn lại (tự do hàng không) và Tự do đặt ống dẫn ngầm và dây cáp (thí dụ để kéo Inernet từ đất liền xuyên qua đại dương chẳng hạn).

Như vậy, việc HD981 thực hiện một hành trình “xuyên qua” vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam mà không thấy ông tàu ngầm nào ra ngăn cản là chuyện đương nhiên. HD981 chỉ không có quyền cắm vòi của nó xuống vùng này để hút dầu, bắt cá mà thôi. Thậm chí đừng nói là vùng đặc quyền kinh tế rộng tới 200 hải lý, nếu coi HD981 là một “du thuyền để các chân dài tắm nắng và ngắm cảnh” thì nó còn có thể tiến vào và chạy qua chạy lại vùng lãnh hải 12 hải lý ngay sát sườn của Việt Nam mình đấy chứ.

Thế nên “câu hỏi” trên fanpage Na Son Photographer đặt ra thực sự rất ngô nghê.

Để dễ hình dung, có thể coi lãnh thổ Việt Nam như một ngôi nhà. Phần tiếp giáp với biển là cửa nhà. Thế thì lãnh hải là cái mí cửa. Chúng ta “mặc nhiên” hiểu rằng mí cửa nhà mình... là của nhà mình! Ông hàng xóm không thể ngồi ở cái mí cửa nhà mình được, nhưng đi qua đi lại dẫm thẳng lên cái mí cửa đó cũng chẳng sao.

Còn vùng đặc quyền kinh tế có thể coi là cái “vỉa hè”. Chúng ta cũng thường mặc nhiên hiểu rằng chúng ta có quyền ra bán bún ở vỉa hè trước cửa nhà mình, trong khi dân tình vẫn chạy tới chạy lui chạy qua chạy lại.

Như vậy, việc duy nhất mà chúng ta có thể làm khi Trung Quốc đưa HD981 xuống Biển Đông và tiến vào vùng đặc quyền kinh tế của chúng ta đó là đi theo nó và giám sát nó thật chặt. Để đảm bảo nó vẫn được “tự do đi lại” nhưng không được đánh bắt, không được thò cắm cái gì xuống vùng biển đó. Nếu thấy nó tự nhiên “đứng lại” một lúc lâu thì phải coi là việc bất thường và đề nghị… đi tiếp. Bởi vì trong thực tế, ông hàng xóm đi qua và đứng lại vỉa hè nhà bạn cũng có thể là do quần bị tụt, dép bị đứt, chân bị đau… chứ không phải ông đó cứ đứng lại là chuẩn bị bỏ bàn bỏ ghế xuống mua tranh bán cướp của chúng ta vài tô bún.

Trong thực tế, lực lượng cảnh sát biển Việt Nam và hải quân Việt Nam vẫn làm việc này từ trước đến nay như vậy. Chẳng có gì để mà chê trách. Và còn một thực tế nữa là Trung Quốc mới “đánh tiếng” về việc sẽ cho HD981 đứng ì cù lì ra đó và chuẩn bị chọc vòi xuống khoan dầu chứ việc này chưa diễn ra. Như vậy, làm gì có chuyện Việt Nam tự nhiên mang tàu ngầm tên lửa gì ra ngăn chặn hay bắn phá? Việt Nam chỉ nên điều tàu hải quân, cảnh sát biển ra xua đuổi kết hợp với phản đối ngoại giao và đánh động dư luận quốc tế mà thôi (Việt Nam đã làm rồi).

Hãy thử tưởng tượng, một bà quang gánh bán bún dạo đến vỉa hè nhà bạn và tự nhiên đứng lại bạn sẽ làm gì? Vén quần ra chửi “eh con chết bờ chết bụi kia, sao mày bán bún trước cửa nhà bà, gánh ngay đi chỗ khác bán nhé, không được bán ở đây đâu” hay bạn xuống bếp vác dao bầu lên xiên chết người ta?

Nhưng câu hỏi lớn nhất đặt ra ở đây là bạn (và chúng ta) sẽ phải làm gì nếu “cái con chết bờ chết bụi” kia cứ nhất quyết không đi? Và sau đó lại cố tình hạ quang gánh xuống bán bún ở ngay trước cửa nhà mình? Cá nhân tôi thì cho rằng nếu nó chỉ đứng đấy, tôi chửi mà không được thì tôi mang nước ra tôi xịt, tôi xuỳ chó ra xua đuổi thậm chí phải “dùng vũ lực” để dùng tay, dùng vai, dùng đít hất, đẩy, dúi nó xuống lòng đường. Còn cuối cùng nó nhất quyết nằm ra ăn vạ hoặc cứ cố tình hạ quang gánh xuống bán bún thì sẽ phải có đánh nhau thôi chứ đâu còn con đường nào khác!

NHƯNG CẦN PHẢI NHẤN MẠNH MỘT LẦN NỮA RẰNG HIỆN TẠI THÌ “CON QUANG GÁNH” KIA MỚI ĐỨNG LẠI VÀ “DOẠ” LÀ SẼ BÁN HÀNG CHỨ THỰC TẾ NÓ CHƯA LÀM GÌ CẢ.

Như vậy, phát biểu của Bộ Ngoại giao Mỹ ngày 6/5 rằng “Việc Trung Quốc đưa giàn khoan [tới vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam] là một hành động khiêu khích và không có lợi cho việc duy trì hoà bình và ổn định ở khu vực” là chính xác. Đây không phải là phát biểu “tỏ ra thận trọng” như một số tờ báo bình luận. Đây là phát biểu rất đúng với tình hình hiện tại. Xét về mặt luật, con chết bờ chết bụi kia được quyền đi qua vỉa hè nhà mình, được quyền đứng lại hóng gió. Nhưng tự nhiên nó lại gánh gồng bếp, nồi, bún, cá… tới đứng đó và nói rằng chỉ để đi qua đi lại là quá lẻo mép, lươn lẹo và đang muốn khiêu khích còn gì nữa!

2- TẠI SAO TRUNG QUỐC “NGANG NGƯỢC” TUYÊN BỐ SẼ HÚT DẦU Ở VỊ TRÍ NEO ĐẬU HIỆN TẠI?

Chỗ mà HD981 đang neo đậu nằm gần “đảo” Tri Tôn, một “đảo” nằm trong vùng đảo Hoàng Sa mà Trung Quốc đã dùng vũ lực ăn cướp của Việt Nam và chiếm đóng trái phép (dù vậy, Việt Nam vẫn trước sau như một tuyên bố chủ quyền không thể tranh cãi với tất cả các đảo này).

Trung Quốc cho rằng họ có chủ quyền với Tri Tôn / Hoàng Sa (của Việt Nam) nên có quyền chủ quyền với vùng lãnh hải 12 hải lý xung quanh và đang nỗ lực nới rộng 200 hải lý xung quanh cụm đảo thuộc Hoàng Sa của Việt Nam ra thành vùng đặc quyền kinh tế của Trung Quốc.

Việc hung hăng “doạ” sẽ chọc vòi khoan của HD981 xuống vùng này là để bằng mọi cách hợp thức hoá vùng đảo đi ăn cướp, rồi hợp thức hoá luôn “lãnh hải” và “đặc quyền kinh tế” của vùng này. Trong khi cần phải nhấn mạnh rằng Tri Tôn vốn là bãi đá ngầm chứ không phải là đảo, càng không phải là đảo phù hợp cho người ở cho nên dù có trắng trợn ăn cướp và tuyên bố chủ quyền ăn cướp, Trung Quốc cũng không có quyền chủ quyền và quyền tài phán ở vùng này. Nhất là khi nó lại đang “chồng lấn” vào vùng đặc quyền kinh tế ĐƯƠNG NHIÊN VÀ KHÔNG TRANH CÃI của Việt Nam (nếu theo lý sự cùn về “chủ quyền ăn cướp” mà Trung Quốc tạm thời đang nắm giữ bất hợp pháp).

Tức là, bằng việc chọc vòi khoan của HD981 xuống vùng biển gần Tri Tôn, Trung Quốc sẽ hiện thực hoá được các ý đồ theo bậc thang từ cao xuống thấp như sau:

1- Cố gắng liên kết các đảo/bãi đá thuộc vùng đảo Hoàng Sa vào thành một cụm (trong khi các điều kiện tự nhiên, địa lý không cho phép làm vậy). Để từ đó coi “cả cụm” Hoàng Sa thuộc chủ quyền Trung Quốc.

2- Khi xác lập chủ quyền “cả cụm” như vậy, Trung Quốc sẽ tiến tới đớp luôn 12 hải lý xung quanh làm lãnh hải cho “cụm đảo Hoàng Sa”.

3- Tiếp đó, Trung Quốc liếm lốt 188 hải lý bên ngoài thành “Đặc quyền kinh tế” của mình.

4- Hợp thức hoá vùng đảo đi ăn cướp trở thành chủ quyền hợp pháp. Qua đó hô biến vùng biển đặc quyền kinh tế của Việt Nam (và các nước khác) biến thành vùng chồng lấn và chanh chấp.

5- Khi liên kết được các đảo/bãi đá ở vùng Hoàng Sa thành “một cụm” Hoàng Sa, chắc chắn Trung Quốc sẽ làm tương tự với Trường Sa, vì nước này đã ăn cướp nhiều đảo/bãi đá của Việt Nam ở vùng Trường Sa. Trung Quốc sẽ mở rộng lãnh hải, đặc quyền kinh tế ở “cụm Trường Sa” và dựa vào đó để lấn chiếm về mặt kinh tế, sau đó là về mặt lãnh hải với các đảo mà Việt Nam hiện đang quản lý và tuyên bố chủ quyền ở vùng Trường Sa.

6- Hợp thức hoá đường lưỡi bò 9 đoạn và liếm trọn Biển Đông.

3- VIỆT NAM CÓ THỂ LÀM GÌ LÚC NÀY?

Trong khi Việt Nam chỉ xây dựng được giàn khoan ở các mỏ Bạch Hổ, Sư Tử Vàng, Sư Tử Trắng, Sư Tử Nâu, Mỏ Đại Hùng… là những giàn khoan “cố định” thì Trung Quốc có một “tàu sân bay khoan dầu”. Cái phương tiện này nguy hiểm ở chỗ nó không đứng yên một chỗ như giàn khoan của chúng ta mà nó “như một cái tàu” nên được quyền đi lại. Tại vì Trung Quốc không thể mỗi ngày mang một cây sắt, một cục bê tông vào vùng đặc quyền kinh tế Việt Nam để xây dựng đến khi thành hình một cái giàn khoan mà không gặp phản ứng gì. Nhưng họ lại có quyền bê một “cái tàu giàn khoan” đi lại tự do trên biển. Có thể coi đây là “Lợi thế cạnh tranh cốt lõi” dựa trên tiềm lực kinh tế và khoa học kỹ thuật của Trung Quốc mà chúng ta thực sự bó tay.

Chúng ta chỉ có thể “đối phó” bằng cách nâng cao năng lực tuần tra, giám sát, phát hiện và ngăn chặn sớm cho lực lượng cảnh sát biển Việt Nam và hải quân Việt Nam để sẵn sàng phương án xua đuổi “con quang gánh” chết bầm kia thôi.

Bên cạnh đó, về mặt ngoại giao và truyền thông, Việt Nam cũng nên thay đổi chiến lược, cần làm rõ cho dư luận Quốc tế hiểu rằng Hoàng Sa là một vùng đảo có nhiều đảo lớn nhỏ và bãi đá khác nhau. Để qua đó ngăn chặn việc hợp nhất cụm đảo, ngăn chặn việc bành trướng lãnh hải và đặc quyền kinh tế trong vùng đảo Hoàng Sa mà Trung Quốc ăn cắp trắng trợn của Việt Nam. Cũng như cần phát đi thông điệp mạnh mẽ để các quốc gia khác nhận thức rằng việc HD981 khoan dầu tại vùng biển gần Tri Tôn không phải chỉ là vấn đề xâm phạm vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam mà là dã tâm hợp thức hoá đường 9 đoạn. Nếu điều này xảy ra, tất cả các quốc gia có quyền lợi liên quan và đang có tranh chấp chủ quyền đảo đều bị thiệt hại không thể cân đong đo đếm được.

Và cuối cùng, với chúng ta, những người trẻ, có học thức và khả năng suy xét đúng sai, hãy trang bị kiến thức cho bản thân để hiểu rõ bản chất vấn đề. Hãy đừng ném đá và chỉ trích một cách ngô nghê nữa.

http://compare.vn/ti...am-viet-nam--39

Share this post


Link to post
Share on other sites

Bắn chìm tàu TQ xâm phạm, Nga cảnh cáo: ‘Đừng vuốt râu hùm!’

Nga luôn khẳng định lập trường về chủ quyền lãnh thổ của mình với Trung Quốc một cách cứng rắn nhất.

Bắn chìm tàu Trung Quốc xâm phạm

Đối với Trung Quốc, Nga có thái độ hết sức cứng rắn với những vi phạm về chủ quyền lãnh thổ dù là nhỏ nhất. Những hành động này chính là cảnh cáo mà phía Nga dành cho những yêu sách lãnh thổ của Trung Quốc. Điển hình là thái độ cứng rắn của Nga trong việc xử lý các tàu Trung Quốc vi phạm vùng lãnh hải.

Ngày 15/2/2009, Nga đã gây sốc không chỉ cho Trung Quốc mà còn với toàn thế giới. Tàu chiến Nga đã bắn khoảng 500 viên đạn vào mũi và đuôi của tàu New Star của Trung Quốc, nhấn chìm chiếc tàu tại lãnh hải Nga gần thành phố cảng Vladivostok.

Nga cho rằng, việc tàu New Star tự động rời cảng Nakhodka khi chưa được phép là xâm phạm trái phép lãnh hải Nga và khi cơ quan biên phòng nước này phái 2 tàu đuổi theo, ra lệnh dừng lại trong một thời gian dài, nhưng họ cũng không chấp hành. Tàu New Star thuộc sở hữu của một doanh nhân tại tỉnh Chiết Giang, Trung Quốc và công ty có trụ sở ở Hongkong.

20130806083828-tau-trung-quoc-bi-nga-ban-chim-2009-1375119181017.jpg

Tàu chở hàng của Trung Quốc bị Nga bắn chìm năm 2009 vì vi phạm lãnh hải

Trước vụ việc này, Đại sứ Trung Quốc tại Nga là Lý Huy nói: "Trung Quốc bị sốc và vô cùng lo ngại trước vụ việc, đồng thời bày tỏ sự thất vọng lớn của Bắc Kinh trước việc tàu chiến Nga bắn tàu hàng của Trung Quốc, cũng như thiếu nỗ lực trong việc cứu giúp những thủy thủ bị rơi xuống nước".

Ngày 20/2, Vụ trưởng Vụ Quan hệ Châu Âu-Trung Á thuộc Bộ Ngoại giao Trung Quốc đã gửi công văn phản đối tới Lãnh sự Nga tại Trung Quốc, đồng thời cho rằng, thái độ của Nga trong vụ tàu New Star bị đắm ở lãnh hải của Nga là vô cùng khó hiểu và không thể chấp nhận được. Chính phủ Trung Quốc coi việc này là vô cùng quan trọng và yêu cầu Nga phải điều tra toàn diện để nhanh chóng tìm ra nguyên nhân vụ việc.

Tuy nhiên, Nga đã thể hiện lập trường cứng rắn, cho rằng việc xử lý của mình là hợp pháp. Tiếp đó ngày 21/2, cơ quan chức năng Nga đã ra quyết định khởi tố đối với thuyền trưởng tàu New Star vì xâm phạm trái phép biên giới với bản án 2 năm tù giam.

Không chỉ vậy, vào ngày 17/7/2012, hai tàu cá từ tỉnh Sơn Đông của Trung Quốc (tàu Chiết Đài Ngư 8695 và Lỗ Vinh Ngư 80-117) đã bị tuần duyên Nga bắt giữ do xâm phạm vùng đặc quyền kinh tế của Nga.

Sau nhiều giờ rượt đuổi trong khi bị tàu cá Trung Quốc cố tình phớt lờ, tàu Cảnh sát biển Nga Dzerzhinsky đã buộc phải bắn vào 1 trong 2 con tàu trên nhưng không có ai bị thương.

Tuy nhiên, sau đó truyền thông Trung Quốc lại loan tin 1 trong số các ngư dân trên 2 con thuyền đã bị mất tích sau vụ đụng độ với tàu tuần duyên Nga trên biển vào hôm 16-17/7 và yêu cầu phía Nga phải chịu trách nhiệm.

Bên cạnh đó, ông Trình Quốc Bình, Thứ trưởng Bộ Ngoại giao Trung Quốc còn lên tiếng chỉ trích Nga về việc "thực thi pháp luật một cách thô bạo", đồng thời yêu cầu phía Nga nhanh chóng thả người và tàu.

Thế nhưng, Moscow cũng không ngần ngại thể hiện lập trường cứng rắn trong vấn đề này. Ngày 20/7, hãng tin Nga Interfax dẫn lời văn phòng báo chí Cục An ninh Liên bang trực thuộc Bộ Chỉ huy Biên phòng Lãnh hải nước này còn cho biết tiến trình pháp lý khởi tố hình sự hai thuyền trưởng Trung Quốc trong vụ tàu cá trên đã sắp hoàn thiện.

Theo đó, ông Trương Tân Kỳ (tàu Chiết Đài Ngư 8695) và Khâu Hiểu Minh (tàu Lỗ Vinh Ngư 80-117) đang phải đối mặt 2 tội danh là xâm phạm lãnh hải và đánh bắt trái phép trong vùng đặc quyền kinh tế của Nga.

Trước phản ứng kiên quyết của Moscow, Bắc Kinh hôm 22/7 phải xuống nước tỏ ra ‘mềm mỏng’ với luận điệu: “Nhân dân hai nước hãy nhìn nhận vấn đề theo chiều hướng khách quan và bình tĩnh”, phát ngôn viên Hồng Lỗi nói

.

20130806084333-001.jpg

Tàu Cảnh sát biển Nga Dzerzhinsky nổ súng vào 2 tàu cá Trung Quốc xâm phạm lãnh hải Nga và ngang nhiên hoạt động bất chấp cảnh báo

Hành động bắn vào tàu cá Trung Quốc năm 2012 và trước đó là bắn chìm tàu hàng của Trung Quốc năm 2009 là thông điệp Nga gửi đến đến Trung Quốc, rằng chủ quyền lãnh thổ Nga là thứ mà Trung Quốc không nên mơ tưởng.

Răn đe bằng tập trận

Năm 2013, lực lượng quân sự Nga có những hoạt động tập trận hết sức nhộn nhịp. Ẩn chứa đằng sau đó là những thông điệp hết sức rõ ràng.

Trước hết là tập trận “Hợp tác trên biển 2013” giữa hải quân Nga và Trung Quốc được tổ chức ở vịnh Pie đại đế thuộc Biển Nhật Bản từ ngày 5/7 đến 12/7. Cuộc tập trận này được cho là nhằm gửi thông điệp đến Mỹ và đồng minh đối với chiến lược chuyển trọng tâm sang Châu Á – Thái Bình Dương của Mỹ.

Trong cuộc diễn tập có sự tham gia của 11 chiến hạm nổi và một tàu ngầm của Nga, được đánh giá là lực lượng hải quân mạnh nhất tham gia trong lịch sử tiến hành các cuộc diễn tập trên biển.

Cuộc tập trận đang khiến Trung Quốc như "mở cờ trong bụng" khi được cùng Nga lên gân với Mỹ và các đồng minh thì Nga đã dội ngay "gáo nước lạnh" vào Trung Quốc khi chỉ sau chưa đầy 12 giờ đồng hồ tính từ thời điểm lực lượng Hải quân Trung Quốc quay trở về căn cứ quân sự của mình, Nga tiến hành một cuộc diễn tập lớn chưa từng thấy từ trước tới nay

20130806084453-002.jpg

Kế hoạch và lực lượng quân sự khổng lồ của Nga tham gia tập trận

Thông cáo báo chí của Bộ Quốc phòng Nga cho biết, theo mệnh lệnh của Tổng Tư lệnh các lực lượng vũ trang Liên bang Nga - Tổng thống Vladimir Putin, toàn bộ các quân đoàn, sư đoàn và các lữ đoàn độc lập trực thuộc các quân khu Trung tâm và quân khu miền Đông, Hạm đội Thái Bình Dương, các căn cứ không quân tiêm kích, vận tải và không quân chiến lược ở vùng Viễn Đông Nga đã được lệnh tiến hành tập trận kiểm tra sẵn sàng chiến đấu bất thường với quy mô lớn chưa từng có. Viễn Đông chính là vùng hết sức nhạy cảm trong quan hệ Nga và Trung Quốc.

Cuộc tập trận diễn ra từ ngày 13 - 20/7, các sư đoàn vận chuyển cơ giới đường bộ, đường sắt, đường biển và đường không được lệnh thực hiện đổ quân chiến dịch trong cự ly hơn 3.000 km. Tham gia tập trận có 1.000 xe tăng và xe bọc thép, 130 máy bay vận tải, tiêm kích, ném bom chiến thuật và chiến lược, máy bay trực thăng các loại, 70 tàu chiến và tàu hỗ trợ của Hải quân Nga.

20130806084610-003.jpg

Cuộc tập trận huy động đến 160.000 quân nhân, 5.000 xe tăng và thiết giáp

Ở mặt trận trên bộ, Tập đoàn quân số 36 triển khai lực lượng hùng hậu gồm các xe tăng hạng nặng, xe bọc thép và các đơn vị tên lửa chiến thuật tham gia tập trận.

Toàn bộ Lữ đoàn xe tăng số 5 thuộc Tập đoàn quân số 36 đã thực hiện hành quân cơ động sẵn sàng chiến đấu trên quãng đường dài hơn 1.100 km với 100 xe tăng, xe thiết giáp và 60 xe bọc thép các loại.

Ngoài ra, các lữ đoàn tấn công đổ bộ số 11, lữ đoàn điều khiển 75 và lữ đoàn hậu cần kỹ thuật 101 với tổng cộng hơn 400 xe cơ giới cũng đã thực hiện hành quân liên tục trên quãng đường 1.100 km trong vòng 2 ngày đêm.

Lữ đoàn cơ giới độc lập số 37 cùng với khoảng 200 chiếc xe bánh xích và 100 xe bọc thép đã hành quân cơ động từ căn cứ đóng quân ở thành phố Kyahta đến thao trường Burduny.

20130806084657-004.jpg

Xe tăng Nga trong cuộc tập trận

Trong khi đó, lữ đoàn tên lửa chiến thuật Tochka-U số hiệu 103 cũng trực thuộc Tập đoàn quân số 36 đã được lệnh triển khai đội hình ở cấp độ sẵn sàng chiến đấu cao. Đồng thời, các lực lượng hỗ trợ nhanh chóng làm nhiệm vụ tổ chức phòng thủ, ngụy trang và nghi binh bằng các thiết bị điện tử tinh vi.

Các lực lượng không quân và phòng không của Bộ tư lệnh số 3 không quân Nga và quân khu miền Đông được giao nhiệm vụ xuất kích bảo vệ bầu trời cho các hoạt động của các đơn vị mặt đất và trên biển.

Trong đó, các trung đoàn không quân tiêm kích Su-27 đã thực hiện ngăn chặn tấn công đường không của đối phương. Cùng với đó, các đơn vị không quân chiến lược gồm các máy bay ném bom tầm xa Tu-95MS cũng được huy động tham gia tập trận.

Đặc biệt, Nga đã báo động sẵn sàng chiến đấu 2 sư đoàn tên lửa chiến lược tại vùng Viễn Đông, bao gồm Sư đoàn tên lửa Tagil thuộc tỉnh Sverdlovsk và Sư đoàn tên lửa Yasnenskaya thuộc tỉnh Orenburg. Theo các nguồn tin công khai, Sư đoàn tên lửa Tagil được trang bị các tên lửa đạn đạo liên lục địa Topol (SS-25 Sickle), trong khi Sư đoàn tên lửa Yasnenskaya được trang bị các hệ thống tên lửa đạn đạo RS-20V Voyevoda (SS-18 Satan).

20130806084804-005.jpg

Quãng đường hành quân lên đến hàng nghìn km

20130806084842-006.jpeg

Máy bay ném bom chiến lược Tu-95MS tham gia cuộc tập trận

20130806084922-007.jpg

Tên lửa đạn đạo liên lục địa Topol (SS-25 Sickle) tham gia cuộc tập trận

Cùng thời gian, quân khu miền Đông đã thành lập 6 biên đội tàu chiến hỗn hợp trong đó bao gồm các tàu chiến mặt nước và tàu ngầm của Hạm đội Thái Bình Dương.

Theo thông báo, các đơn vị vũ trang của hai Tập đoàn quân 35 và 36 thuộc quân khu Trung tâm và quân khu miền Đông thực hiện nhiệm vụ diễn tập-chiến đấu tại 17 thao trường trên đất liền và 2 thao trường trên biển.

Có thể thấy rằng cuộc diễn tập quy mô này đáng chú ý nhất là cuộc hành quân khổng lồ tới hàng nghìn km trên bộ, cũng như số lượng các thao trường trên bộ nhiều hơn nhiều so với trên biển. Các chuyên gia phân tích và phương tiện truyền thông quốc tế đều đồng loạt cho rằng cuộc tập trận quy mô chưa từng thấy của nước Nga thời hiện đại có đối tượng trên biển là Nhật Bản, trên bộ là Trung Quốc.

Tạp chí “Học giả Ngoại giao” Nhật Bản phân tích bài báo cho rằng, sự thực cho thấy, cuộc diễn tập quân sự lần này đã chứng minh mặc dù gần đây, hai nước Nga-Trung đã có sự cải thiện rõ rệt trên một số lĩnh vực, chẳng hạn hợp tác năng lượng và quân sự (tuần trước hai nước đã tổ chức cuộc diễn tập liên hợp trên biển quy mô lớn nhất trong lịch sử của họ), nhưng quan hệ hai nước vẫn rất đáng lo ngại.

Đặc biệt là rất nhiều quan chức Nga hết sức nghi ngờ Trung Quốc đang có ý đồ khởi động một chiến lược thôn tính lâu dài đối với khu vực Viễn Đông của Nga, bởi những năm gần đây có rất nhiều người Trung Quốc đã di cư đến khu vực này. Do vậy, Nga tiến hành cuộc tập trận này với hai đối tượng cần cảnh báo đó là Nhật Bản và Trung Quốc.

Alexander Khramchikhin, nhà phân tích quân sự độc lập Moscow nói: “Rất rõ ràng, phần đất liền của cuộc diễn tập này là nhằm vào Trung Quốc, còn phần trên biển và đảo là nhằm vào Nhật Bản”.

Đinh Tuấn (Theo Tri Thức Trẻ )

Share this post


Link to post
Share on other sites

* BÍ KÍP BIỂU TÌNH CỦA SINH VIÊN HỒNG KÔNG - TRÍ TUỆ MÀ ĐƠN GIẢN

Nó trả lời câu hỏi: Vì sao Umbrella Revolution của sinh viên Hồng Kông có thể diễn ra tuyệt vời như thế, đồng thời bộc lộ phẩm chất nhân văn hết mức của những người lãnh đạo phong trào.

Từng thành viên của phong trào, sau khi nghiên cứu kỹ "bí kíp"., đều có thể "tự lãnh đạo" mình trong mọi diễn biến mà không cần phải hỏi ý kiến của bất kỳ ai...

“Dùng bạo lực để chống bạo lực không chỉ làm tăng thêm sự sợ hãi, mà cho nhà cầm quyền có lý do để đàn áp, và củng cố địa vị của kẻ độc tài. Bất tuân dân sự là phương pháp dùng thương yêu để thắng hận thù. Người tham gia sẽ phải đối mặt với đau khổ bằng một thái độ cao quý, để thu phục lương tâm của kẻ đàn áp, và giảm thiểu sự thù hận do hành vi tàn bạo gây ra... và làm nổi bật sự thiếu chính nghĩa của việc đàn áp có hệ thống của người (chính quyền) sử dụng bạo lực. Sự hy sinh của người đấu tranh là cách hay nhất để làm công chúng thức tỉnh...

...Chúng ta đấu tranh để chống lại một hệ thống bất công, chứ không chống lại cá nhân. Chúng ta không tiêu diệt hay làm bẽ mặt các nhân viên công lực, thay vào đó, chúng ta phải chiếm được lòng tôn trọng và sự cảm thông của họ. Chúng ta không chỉ cần phải tránh dùng bạo lực để đối đầu, mà còn cần phải tránh để cho lòng thù hận có thể nẩy mầm trong trái tim...”...

Thán phục sinh viên Hồng Kông!

(Và cảm ơn Tú Trung Hồ với stt rất hay: "Hiệp sĩ phải có bí kíp" này)

10155766_896470617032406_1576194973271460336_n.jpg?oh=a43ba15f8a497bcfdbfc4a514883136a&oe=54B75E77

Tú Trung Hồ

Hiệp sĩ phải có bí kíp:

Cẩm Nang Bất Tuân Dân Sự dài 8 trang, là một tài liệu hướng dẫn người tham dự từng bước phải làm gì trước và trong khi biểu tình, phải làm gì khi đối diện với cảnh sát và khi bị bắt, nhưng quan trọng hơn, là để họ thấu hiểu triết lý và chiến lược chính yếu của cuộc đấu tranh bất bạo động, mà họ tự nguyện tham dự.

“Cẩm Nang Bất Tuân Dân Sự” (Manual of Disobedience) do tổ chức Occupy Central soạn, và phân phối vài ngày trước khi chiến dịch biểu tình được phát động.đó “là những người hiểu rất rõ bí quyết của đấu tranh bất bạo động.”

, chẳng hạn như trong phần triết lý, cẩm nang viết:

“Dùng bạo lực để chống bạo lực không chỉ làm tăng thêm sự sợ hãi, mà cho nhà cầm quyền có lý do để đàn áp, và củng cố địa vị của kẻ độc tài. Bất tuân dân sự là phương pháp dùng thương yêu để thắng hận thù. Người tham gia sẽ phải đối mặt với đau khổ bằng một thái độ cao quý, để thu phục lương tâm của kẻ đàn áp, và giảm thiểu sự thù hận do hành vi tàn bạo gây ra. Quan trọng hơn cả, bất bạo động sẽ thu hút được sự cảm thương của những người bàng quan (công luận), và làm nổi bật sự thiếu chính nghĩa của việc đàn áp có hệ thống của người (chính quyền) sử dụng bạo lực. Sự hy sinh của người đấu tranh là cách hay nhất để làm công chúng thức tỉnh.”

Và: “Chúng ta đấu tranh để chống lại một hệ thống bất công, chứ không chống lại cá nhân. Chúng ta không tiêu diệt hay làm bẽ mặt các nhân viên công lực, thay vào đó, chúng ta phải chiếm được lòng tôn trọng và sự cảm thông của họ. Chúng ta không chỉ cần phải tránh dùng bạo lực để đối đầu, mà còn cần phải tránh để cho lòng thù hận có thể nẩy mầm trong trái tim.”

Hellen cho biết là một sinh viên luật, cô không chỉ “mê” triết lý của phong trào, mà còn để ý đến cách tổ chức Occupy Central.

'Letter of Intent' là một đơn rất ngắn, đòi hỏi người muốn tham gia phải cam kết ba điều:

a) đồng ý rằng việc phổ thông đầu phiếu là có lợi cho Hồng Kông.

B) thủ tục phổ thông đầu phiếu bầu cử phải được đa số người dân Hồng Kông có ý kiến và đồng ý.

c) hoàn toàn tuân theo quy tắc đấu tranh bất bạo động mà phong trào đề ra.

Cũng qua Letter of Intent, người làm đơn có thể chọn một trong ba cách tham gia:

1. Hỗ trợ vòng ngoài cho những người đi biểu tình, như phân phối thức ăn, làm những việc hậu cần, nhưng không biểu tình, hoặc

2. Tham dự biểu tình, nhưng không tự nguyện bị bắt, và không khức từ quyền có luật sư bào chữa nếu bị bắt, hoặc

3. Tham dự biểu tình, và tự nguyện bị bắt, và khước từ quyền có luật sư bào chữa.

Thật ra thì Occupy Central không phải là phong trào duy nhất có cuốn cẩm nang bất tuân dân sự. Cái hay của phong trào, theo Hellen, nằm ở chỗ ban lãnh đạo rất biết cách “dưỡng quân” và "điều quân."

Cả đối với những đơn mà người tham dự chọn đi biểu tình, ban tổ chức cũng xét kỹ xem họ có từng bị bắt vì một trong bốn tội như làm tắc nghẽn nơi công cộng, tụ họp không có giấy phép, tụ họp bất hợp pháp, hay gây rối nơi công cộng chưa, vì thường thì vi phạm những tội này lần đầu chỉ bị nộp phạt rồi được thả về, chứ không bị đi vào hồ sơ. Nhưng nếu tái phạm thì có thể sẽ bị tù, vì thế những ai đã từng bị cảnh cáo (vì những tội này) thường được giao trách nhiệm “tình nguyện viên” chuyên lo thực phẩm, dán bích chương, hay làm vệ sinh, v.v... thay vì biểu tình.

Một đoạn trong cẩm nang đưa ra những lời khuyên chi tiết như trước khi tham dự biểu tình thì viết sẵn một text message trong phôn, ghi rõ tên tuổi địa chỉ, và khi bị bắt thì gửi ngay cho Occupy Central để họ cử luật sư giúp đỡ. Hay khi sắp bị cảnh sát giải tán thì nắm tay nhau nằm hàng loạt xuống đường để bày tỏ sự phản đối, và làm cho việc bắt bớ khó hơn, nhưng nếu có bị còng tay thì "nhũn người ra" để làm giảm thiểu sự đau đớn.

Một đoạn viết: "Trước khi bắt, cảnh sát đầu tiên sẽ hỏi người đó có tự nguyện lên xe cảnh sát không. Nếu người biểu tình tự nguyện, cảnh sát sẽ không dùng vũ lực; nếu người biểu tình không tự nguyện lên xe, cảnh sát sẽ bắt bằng một nhóm bốn người nắm lấy 2 chân và 2 tay người biểu tình bỏ lên xe."

Đoạn khác giải thích về luật tạm giam, cho biết trước những gì sẽ xẩy ra khi bị đưa về bót, và dặn dò người tham dự nên nói gì và không nên nói gì khi bị đưa về bót cảnh sát.

Ngoài cuốn Cẩm Nang Bất Tuân Dân Sự, cuộc biểu tình của sinh viên Hồng Kông vừa qua xem ra còn được sự hỗ trợ tối đa của những người lớn có địa vị trong xã hội.

Share this post


Link to post
Share on other sites

Những ý tưởng vũ khí lạ kỳ của Churchill

Những kế hoạch chế tạo vũ khí mang đậm màu sắc khoa học giả tưởng của Thủ tướng Anh Winston Churchillsẽ lần đầu tiên được trưng bày công khai.

tuasanbay.jpg

Ảnh tái dựng ý tưởng tàu sân bay bằng băng - Ảnh: Illustrated London News

Thế chiến 2 đã tạo điều kiện ra đời cho nhiều phát minh và cải tiến về vũ khívới tác động sâu rộng đến tận ngày nay. Vốn là tín đồ nhiệt thành của khoa học và công nghệ quân sự, Thủ tướng Anh Winston Churchill không thể đứng ngoài cuộc đua tìm kiếm các loại vũ khí mới để mang lại chiến thắng quyết định. Tuy nhiên, cái đầu nổi tiếng táo bạo của nhà lãnh đạo tài ba này đã mang tới những ý tưởng mà nhiều người cho là chỉ có thể tồn tại trong tâm trí của một “nhà bác học hơi điên”.

Nhân kỷ niệm 50 năm ngày mất của Churchill (24.1.1965 - 24.1.2015), Viện Bảo tàng khoa học quốc gia ở London chính thức mở cuộc triển lãm “Churchill: Khoa học trong thời chiến và thời bình” và lần đầu tiên mang đến công chúng cái nhìn chi tiết về các kế hoạch không tưởng của ông.

Tàu sân bay bằng băng

Vào năm 1942, Thế chiến 2 bước vào giai đoạn cao trào và phe Đồng minh gần như bất lực trước sự tung hoành của đội tàu ngầm Đức tại Đại Tây Dương. Các hạm đội chở hàng tiếp tế từ Mỹ đến Anh liên tục bị nhấn chìm bởi những chiếc U-boat có hỏa lực cực kỳ lợi hại và hành tung “bí ẩn như ma quỷ”. Đứng ngồi không yên trước tình trạng trên, Churchill và nội các chiến tranh của ông quyết định tiến hành dự án biến khối băng khổng lồ thành một hàng không mẫu hạm không thể bị hủy diệt, theo tờ Daily Mail. Ý tưởng này đến từ khám phá của chuyên gia Geoffrey Pike rằng nếu trộn mạt cưa vào nước rồi cho đóng băng thì sẽ tạo được một loại vật liệu vô cùng cứng, có thể chịu được mọi loại va chạm và không bị tan chảy. Churchill rất phấn khích và tự ông đã lên phác thảo chi tiết về một lực lượng những tảng băng khổng lồ, có đầy đủ các khoang và đường băng như một tàu sân bay thứ thiệt, di chuyển bằng hơn 20 động cơ gắn dọc theo thân, và hầu như không bị sứt mẻ trước đạn pháo của kẻ thù. Thậm chí nếu bị thủng chỗ nào thì hoàn toàn có thể lấy băng trám ngay chỗ đó. Đội tàu sân bay đặc biệt này sẽ có nhiệm vụ bảo vệ tàu tiếp tế giữa hai bờ Đại Tây Dương cũng như đóng vai trò chính trong các chiến dịch tấn công vào hệ thống cảng biển của phe Phát xít.

Theo thiết kế, con tàu băng dài khoảng 600 m, bề ngang 90 m, đủ sức chở 200 chiến đấu cơ Spitfire hoặc 100 máy bay ném bom Mosquito. Hàng chục chuyên gia và kỹ sư của Anh lẫn Mỹ và Canada ngày đêm “đục đẽo” theo kế hoạch và đến cuối năm 1943, một con tàu mẫu có độ choán nước 1.000 tấn đã ra đời ở hồ Patricia (Canada). Tuy nhiên, đến lúc đó, người ta mới nhận thấy sự không tưởng của dự án này khi con tàu quá chậm chạp, quá nặng nề và không binh sĩ hay thủy thủ nào có thể chiến đấu khi cứ liên tục run cầm cập chưa kể chi phí quá cao. Mặt khác, tình hình mặt trận Đại Tây Dương được cải thiện rõ rệt nhờ tiến bộ về tình báo và phá mật mã nên dự án tàu sân bay bằng băng nhanh chóng bị “xếp xó”.

Không lôi và Bánh xe tử thần

Từng là Bộ trưởng Hải quân của Anh, Churchill cũng nung nấu ý tưởng mang ngư lôi từ dưới biển lên trên trời và thế là khái niệm không lôi ra đời. Theo tạp chí Forbes, thuật ngữ “không lôi” chỉ những khối chất nổ được treo lủng lẳng trên không bằng dù do máy bay thả theo hàng khi tiếp cận máy bay ném bom của Đức. Ý tưởng này phần nào chứng tỏ hiệu quả khi đánh rớt 6 chiến đấu cơ thiện chiến của không quân Đức trong giai đoạn phe Phát xít không kích cấp tập vào nước Anh từ tháng 9.1940 đến tháng 5.1941. Thế nhưng, uy lực của không lôi quá giới hạn trong khi loại vũ khí này lại thiếu ổn định và rất khó kiểm soát. Sự ra đời của radar đã giúp không quân Anh đối phó hiệu quả hơn với các đợt oanh tạc của Đức và chính thức “tống tiễn” không lôi.

Một loại vũ khí khác đến từ cái đầu của Thủ tướng Churchill không bao giờ vượt qua được giai đoạn thử nghiệm là Bánh xe tử thần. Đây vốn là một bánh xe khổng lồ gắn đầy chất nổ và được đẩy tới trước bằng các rốc két. Mục tiêu của dự án này là tạo ra công cụ hữu hiệu và ít thiệt hại tính mạng binh sĩ trong việc phá hủy các công sự phòng thủ của Đức. Tuy nhiên, quá trình thử nghiệm chứng tỏ Bánh xe tử thần lại đe dọa “quân ta” hơn là địch vì các rốc két liên tục bị lỏng ra và bay tán loạn, không thể kiểm soát, theo tạp chí Mandatory.

Thụy Miên

Share this post


Link to post
Share on other sites

Tàu sân bay trực thăng Izumo - 'siêu phẩm' phòng vệ biển của Nhật

Tàu Izumo mà Nhật vừa đưa vào hoạt động được đánh giá là "siêu phẩm" phòng vệ biển của nước này, "qua mặt" tàu sân bay Liêu Ninh của Trung Quốc.

2-1906-1427902493.jpg

Tàu sân bay trực thăng Izumo. Ảnh: manilalivewire

Ngày 25/3 vừa qua, Tokyo chính thức đưa vào hoạt động tàu chiến lớn nhất của Lực lượng Phòng vệ biển Nhật Bản sau Thế chiến II. JDS Izumo (DDH-183) là tàu sân bay trực thăng, được Nhật gọi với tên chính thức là tàu khu trục trực thăng. Đây là chiếc đầu tiên trong loạt 4 tàu mà nước này dự định chế tạo và chiếc thứ đã được khởi đóng.

Theo truyền thông Nhật Bản, buổi lễ bàn giao tàu được tổ chức ở nhà máy đóng tàu của Công ty JMU, thành phố Yokohama, Nhật Bản. Tại buổi lễ, Bộ trưởng Quốc phòng Nhật Bản Gen Nakatani nói với các phóng viên rằng "Izumo, một tàu khu trục trực thăng nặng 19.500 tấn, dài 248 m, có thể chở được 470 người và khoảng 9 chiếc trực thăng, sẽ tăng cường khả năng phòng vệ chống tàu ngầm". Không đề cập đến quốc gia nào cụ thể, ông Nakatani cho biết thêm "tàu có khả năng phát hiện, đối phó với tàu ngầm trên phạm vi rộng vì nó được trang bị rất nhiều trực thăng”.

Theo Military Today, Izumo đươc hạ thủy vào 6/8/2013 và tiến hành đợt thử nghiệm cuối cùng vào cuối tháng 9/2014, là loại tàu sân bay kiểu mới được Nhật Bản xây dựng cho lực lượng phòng vệ trên biển. Tàu phòng vệ này và chiếc cùng lớp chưa đặt tên (DDH-184, nhiều khả năng sẽ hạ thủy vào tháng 8 năm nay và chính thức đưa vào hoạt động từ tháng 3/2017) được dự định sẽ thay thế 2 chiến hạm kỳ cựu của cụm tác chiến hải quân Nhật là các tàu JS Shirane (DDH-143) và JS Kurama (DDH-144) thuộc lớp Shirane, đã phục vụ từ năm 1980 và 1981.

Tàu khu trục chở trực thăng lớp Izumo là tàu hộ vệ mặt nước lớn nhất trong hạm đội Nhật Bản hiện nay. So với tàu sân bay hạng nhẹ Hyuga lớn nhất Nhật đang sở hữu, Izumo dài hơn tới 51m, đủ cho thấy kích thước đáng nể của nó. Izumo cũng có kích cỡ lớn hơn các tàu sân bay hạng nhẹ như Cavour của Italy và Principe de Asturias của Tây Ban Nha và các tàu sân bay hạng nhẹ khác của Anh.

Ngoài ra, Izumo là một chiếc tàu chiến đa nhiệm. Nó có thể tiến hành đồng thời nhiều hoạt động, vừa có khả năng đổ bộ vừa có khả năng kiểm soát không phận và tấn công đất liền. Chiến hạm này có thể chở quân lính và phương tiện bên trong, khoảng 400 thủy quân lục chiến và xe tải (hoặc thiết bị tương đương). Vì vậy Izumo sẽ nâng cao đáng kể khả năng phòng vệ của Lực lượng Phòng vệ biển Nhật Bản.

Giới chức Tokyo tiết lộ tàu Izumo có thể mang các trực thăng tác chiến chống ngầm SH-60K Seahawk và trực thăng MCH-101 rà phá thủy lôi cải tiến.

Izumo còn được thiết kế để trong trường hợp cần huy động sẽ mang theo tối đa 14 trực thăng (7 chiếc SH-60K và 7 chiếc MCH-101). 5 chiếc trong số này có thể cất và hạ cánh đồng thời, nhờ Izumo có boong tàu lớn và 5 điểm hạ cánh.

Hơn nữa, việc mang được tới 12 - 15 chiếc F-35B sẽ khiến Izumo “vượt mặt” tàu sân bay Liêu Ninh của Trung Quốc, với phương thức tác chiến thứ hai là sử dụng Izumo theo mô hình tàu đổ bộ tấn công. Nếu đảm nhận chức năng kiểu này, Izumo sẽ tăng cường khả năng tấn công mặt đất và kiểm soát không phận trên biển, có vai trò cực kỳ quan trọng tác chiến đổ bộ quy mô lớn.

Trong khi đó, tàu sân bay Liêu Ninh chỉ mang được tối đa 24 chiếc J-15, mà tính năng của những tiêm kích loại này còn kém xa F-35B. Vì vậy giới phân tích cho rằng hàng không mẫu hạm Trung Quốc sẽ rất khó khăn khi phải đối đầu với Izumo. Điều này đồng nghĩa với việc Nhật sẽ thuận lợi hơn trong các hoạt động kiểm soát không phận và hải phận Hoa Đông, nơi hai nước đang tranh chấp chủ quyền trên quần đảo Senkaku/Điếu Ngư, chiếm ưu thế lớn trong tác chiến đổ bộ đánh chiếm hoặc tái chiếm đảo. Đồng thời những chiếc F-35B có thể kết hợp với F-15J tấn công thọc sâu vào đất liền đối phương.

3-3156-1427902493.jpg

Tàu Izumo trong buổi lễ bàn giao cho Lực lượng Phòng vệ biển Nhật. Ảnh: i24news

Tuy nhiên, do là một tàu đổ bộ chở trực thăng nên Izumo có nhược điểm là hệ thống vũ khí không mạnh, chỉ với hai hệ thống phòng không tầm gần Phalanx và hai bệ phóng tên lửa phòng không Raytheon RIM-116 SeaRAM, để chống lại tên lửa đối hạm. Đây có lẽ còn xuất phát từ lý do chính trị và theo Hiến pháp Hòa bình của Nhật, không được phép sở hữu trang thiết bị mang tính tấn công. Cũng chính vì vậy mà Lực lượng Phòng vệ biển Nhật Bản đã phân loại Izumo là tàu khu trục trực thăng. Và dù Izumo được được chế tạo theo nguyên mẫu một tàu đổ bộ tấn công kiểu Mỹ, Tướng Nakatani vẫn nhấn mạnh, “tàu Izumo có thể thực hiện được nhiều nhiệm vụ như gìn giữ hòa bình hay cứu trợ nhân đạo quốc tế” ngay khi tiếp nhận tàu Izumo từ xưởng đóng tàu Japan United Marine ở Yokohama.

Sau sự kiện Nhật biên chế Izumo, một chuyên gia quân sự Trung Quốc giấu tên nhận định “Izumo là minh chứng rằng Nhật Bản hoàn toàn có mọi tiềm lực, đáp ứng yêu cầu về kỹ thuật để xây dựng một chiếc tàu sân bay. Và chắc chắn họ cũng sẽ đáp ứng được những khả năng để vận hành chiếc tàu chiến này”.

Chuyên gia nhận định lực lượng trên biển Trung Quốc sở hữu một lượng tương đối lớn tàu ngầm nên việc Nhật Bản phát triển lực lượng săn ngầm là điều dễ hiểu.

Chuyên gia quân sự Trung Quốc Lý Lỵ cũng cho rằng "so với tàu lớp Hyuga, tàu Izumo đã tăng thêm thiết bị định vị thủy âm dùng để săn ngầm ở mũi tàu, đối phó tàu ngầm thông thường hoạt động ở vùng nước nông. Izumo còn có thể làm tàu chỉ huy tác chiến săn ngầm, dẫn đầu các lực lượng như tàu chiến mặt nước và tàu ngầm của Lực lượng Phòng vệ Biển”.

Tuy nhiên, Zhang Junshe, một chuyên gia quân sự khác của Trung Quốc, lại cho rằng một mình tàu Izumo không thể tạo ra mối đe dọa đối với chiến lược mở rộng trên biển của Trung Quốc ở khu vực châu Á - Thái Bình Dương.

Minh Anh

Share this post


Link to post
Share on other sites

Create an account or sign in to comment

You need to be a member in order to leave a comment

Create an account

Sign up for a new account in our community. It's easy!


Register a new account

Đăng nhập

Already have an account? Sign in here.


Sign In Now